[{"data":1,"prerenderedAt":23},["ShallowReactive",2],{"post-nam-uan":3},{"slug":4,"title":5,"date":6,"ts":7,"year":8,"author":9,"excerpt":10,"cats":11,"tags":15,"pdf":16,"img":17,"tradition":18,"published":19,"modified":20,"pdfs":21,"bodyHtml":22},"nam-uan","NĂM UẨN","01\u002F05\u002F2013",1367393406000,"2013","MT","DOWNLOAD (24 trang, 367 KB) Trong suốt thời gian chuyển bánh xe Pháp (Dharma-cakra) hóa độ chúng sinh, Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng: “Như Lai chỉ dạy có một điều là sự đau khổ và sự chấm dứt đ…",[12],{"name":13,"slug":14},"Bát Nhã (Prajñā)","bat-nha-prajna",[],0,"\u002Fmedia\u002F2013\u002Fbat-nha-prajna\u002F5uan.png","mat-giao","2013-05-01T07:30:06+00:00","2016-10-25T18:46:27+00:00",[],"\u003Cp style=\"text-align:justify;\" align=\"center\">\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fdocs.google.com\u002Ffile\u002Fd\u002F0B1hLXVZWY9lOVU52RElPSUFrMWs\u002Fedit?usp=sharing\">\u003Cstrong>DOWNLOAD (24 trang, 367 KB)\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\" align=\"center\">Trong suốt thời gian chuyển \u003Cb>bánh xe Pháp\u003C\u002Fb> (Dharma-cakra) hóa độ chúng sinh, Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng: “\u003Ci>Như Lai chỉ dạy có một điều là \u003Cb>sự đau khổ \u003C\u002Fb>và \u003Cb>sự chấm dứt đau khổ”\u003C\u002Fb>\u003C\u002Fi> (P:Dīgha-nikāya, Trung A Hàm)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Thật ra, sự khổ đau chỉ có ý nghĩa trong hiện tại mà thôi, bởi vì quá khứ đã trôi qua và tương lai chưa thật đến, cho nên người tri thức Phật Tử theo đuổi mục đích tối thượng là \u003Cb>sự diệt khổ \u003C\u002Fb>cần phải biết rõ ràng các nguyên nhân gây ra khổ đau và phải nắm vững các phương pháp phá bỏ xiềng xích phiền não vây bủa bản thân mình, cũng như hướng dẫn người khác thực hiện đường lối tu tập \u003Cb>Giáo Pháp Giải Thoát\u003C\u002Fb> \u003Cb>chân chính\u003C\u002Fb>, đồng thời việc làm ấy phải được quan niệm thực hành ngay tại chỗ trên xác thân đang mang này.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Trong thực tế, sự khổ đau phiền não có rất nhiều dạng, nhưng vẫn không ra ngoài \u003Cb>\u003Ci>sự khổ đau của xác thân và sự phiền não của tâm hồn\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb>. Chính vì có xác thân cho nên phải chịu sự bức bách của: nóng lạnh, đói khát, đau yếu, già nua, chết chóc và các tai nạn do thiên nhiên tạo tác (\u003Ci>hạn hán, bão tố, lụt lội, động đất, hỏa hoạn\u003C\u002Fi>…) hay do con người gây ra (\u003Ci>cướp bóc, hãm hiếp, giết hại, áp bức, bóc lột, lừa đảo, trộm cắp, hành hạ\u003C\u002Fi>…). Cái khổ của thân kéo theo cái khổ của tâm là phải tìm cách chống lại nóng lạnh, lo tìm thức ăn uống chống lại sự đói khát, lo chạy tìm thuốc men cứu chữa bệnh tật, lo tìm cách ngăn ngừa sự già nua chết chóc, lo tìm phương cách đối phó với các tai nạn do thiên nhiên hay do con người tạo ra. Ngoài ra còn trăm ngàn nỗi thống khổ khác vây bủa thân tâm như: bực dọc vì xích mích cãi vã xung đột. Sự oán ghét khi ta đối nghịch với người. Sự thất vọng khi mong cầu không vừa ý. Sự chán chường buồn nản chỉ vì niềm vui chỉ thoáng qua rồi mất. Sự chán ghét vì phải chung sống với người, vật, xã hội mà ta không ưa thích. Sự thương mến quyến luyến người, vật, xã hội mà ta ưa thích đã tàn phai. Sự oán hận khi bị bóc lột, áp bức. Sự tủi hận khi thất thế sa cơ. Sự nhọc nhằn mặc cảm trong cảnh nghèo hèn khốn khó. Sự lo sợ vì không muốn mất vật quý…. Và tất cả mọi sự phiền não khổ đau được kết tụ nơi \u003Cb>năm Uẩn \u003C\u002Fb>(Pañca-skandha) là: \u003Cb>Sắc \u003C\u002Fb>(Rūpa: hình thể vật chất), \u003Cb>Thọ \u003C\u002Fb>(Vedanā:cảm giác), \u003Cb>Tưởng \u003C\u002Fb>(Saṃjñā: tri giác), \u003Cb>Hành \u003C\u002Fb>(Saṃskāra: lưu chuyển tạo ứng), \u003Cb>Thức \u003C\u002Fb>(Vijñāna: nhận thức, hiểu biết). Trong đó xác thân thuộc về \u003Cb>Sắc Uẩn\u003C\u002Fb>; còn bốn Uẩn \u003Cb>Thọ, Tưởng, Hành, Thức \u003C\u002Fb>chính là tâm hồn hay tinh thần\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Kinh \u003Cb>Tạp A Hàm \u003C\u002Fb>(P: Saṃyutta-nikāya) 21 có ghi: \u003Ci>“Kẻ nào vui thích trong năm uần: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thật ra kẻ đó vui thích với những điều thống khổ và chẳng mong dứt khổ được”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Cb>Uẩn \u003C\u002Fb>(Skandhā): hay \u003Cb>Ấm\u003C\u002Fb> là sự kết hợp chồng chất che mờ Trí Tuệ làm cho ta không nhận biết được thật tướng của sự vật, cũng như không thấu tỏ được bản thể Như Như và từ sự mê lầm này đã phát sinh lòng tham ái chấp thủ\u003Cb> \u003C\u002Fb>về cuộc sống, đồng thời sự phiền não khổ đau nương vào đó nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_\u003Cb>Sắc \u003C\u002Fb>(Rūpa): biểu thị cho phần vật chất (Sắc Pháp) gồm có bốn Đại Chủng (đất, nước, gió, lửa), các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), các đối tượng của giác quan (hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, cảm xúc va chạm, pháp cảnh).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Sắc có tính \u003Cb>biến ngại \u003C\u002Fb>nghĩa là luôn luôn biến đổi thể trạng và tạo nên các chướng ngại. Do đó mọi \u003Cb>hình sắc\u003C\u002Fb> (Rūpa:sắc), \u003Cb>âm thanh\u003C\u002Fb> (Śabda:thanh), \u003Cb>mùi ngửi\u003C\u002Fb> (Gandha:hương), \u003Cb>vị nếm\u003C\u002Fb> (Rasa: vị), \u003Cb>cảm xúc va chạm\u003C\u002Fb> (Spraṣṭavya: xúc) thường xuyên vận động lưu chuyển trao đổi, hòa hợp cùng nhau tạo thành muôn hình muôn tượng, đồng thời muôn hình muôn tượng này lại được lưu giữ trong tâm tạo nên \u003Cb>vô biểu sắc \u003C\u002Fb>của \u003Cb>Pháp Cảnh\u003C\u002Fb> (Dharma: Pháp). Vì không nhận biết được hình thể vật chất chỉ là \u003Cb>Duyên khởi như Huyễn\u003C\u002Fb>, chỉ tạm hòa hợp để hiện hữu chứ không có Tự Tính riêng biệt nên chúng sinh thường nhận thấy hình thể vật chất là có hình tướng hoặc không có hình tướng, rồi chấp trước cho là tướng trạng đó \u003Cb>thật có \u003C\u002Fb>hay \u003Cb>thật không\u003C\u002Fb>, và sự cố chấp này đã che lấp Trí Tuệ làm cho ta không nhận chân được thật tướng của Sắc. Lúc đó các Sắc chất sẽ chồng chất lên nhau và phối hợp với sự cố chấp ấy tạo thành \u003Cb>Sắc Uẩn \u003C\u002Fb>(Rūpa-skandha).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi Sắc Uẩn được hình thành thì các Sắc chất sẽ xâm nhập vào tâm, khơi động những trạng thái tùy thuộc Sắc Uẩn, làm phát sinh \u003Cb>Luyến Ái \u003C\u002Fb>và \u003Cb>Ngã Chấp \u003C\u002Fb>về đời sống đồng thời sự đau khổ phiền não nương vào đó nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Như khi mắt nhìn thấy một hình sắc: nếu có sự ưa thích sẽ phát sinh lòng \u003Cb>Tham \u003C\u002Fb>(Rāga), nếu không vừa lòng sẽ phát sinh lòng \u003Cb>Sân \u003C\u002Fb>(Dveṣa), nếu \u003Cspan id=\"more-1046\">\u003C\u002Fspan>không biết được bản chất hay thật tướng của hình sắc sẽ phát sinh lòng \u003Cb>Si \u003C\u002Fb>(Moha). Cả ba cảm xúc bất thiện \u003Cb>Tham, Sân, Si \u003C\u002Fb>này nếu không được thỏa mãn sẽ thúc đẩy chúng sinh lao vào các hành động sai trái và thọ nhận hậu quả khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: Một người làm thủ quỹ ngân hàng, do lòng tham của cải phát sinh nên đã tìm cách trộm cắp tài vật về làm của riêng cho đến lúc bị phát giác thì người ấy phải chịu sự đọa đầy khổ đau trong tù ngục.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Hoặc một người nóng tính, khi đi đường bị kẻ khác đụng phải thì rất dễ nổi lòng sân. Nếu không được xin lỗi và bồi thường thích đáng để làm thỏa mãn lòng sân nộ thì người ấy rất dễ gây gỗ và đánh nhau để chịu sự thương tổn xác thân.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Hoặc một người mê sắc lại gặp phải một thiếu phụ xinh đẹp đã có chồng. Do nảy sinh lòng si mê, người ấy vẫn tìm cách quyến rũ thiếu phụ nọ để thỏa mãn lòng si mê bất chấp sự tàn hại xảy ra đối với gia đình ấy. Đến khi bị người chồng hoặc gia đình người chồng biết được thì họ dùng nhiều biện pháp ngăn trở như hăm dọa, đánh đập, giết hại và kẻ mê sắc kia phải chịu mọi hậu quả khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_\u003Cb>Thọ \u003C\u002Fb>(Vedanā): biểu thị cho các cảm giác được nảy sinh do sự tiếp xúc của những cảm quan vật lý và tâm lý đối với thế giới bên ngoài.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Thọ có tính \u003Cb>lãnh nạp \u003C\u002Fb>nghĩa là thu nhận các cảm giác không phân biệt chúng là dễ chịu (vui), khó chịu (khổ) hay trung tính (không vui không khổ). Vì không biết các cãm giác ấy chỉ là hư giả và vô thường mà lại chấp nhận là \u003Cb>thật có \u003C\u002Fb>cho nên sự cố chấp này đã che lấp Trí Tuệ làm cho ta không nhận chân được thật tướng của \u003Cb>cảm giác \u003C\u002Fb>(thọ). Lúc đó các cảm giác sẽ chồng chất lên nhau và phối hợp với sự cố chấp này tạo thành \u003Cb>Thọ Uẩn \u003C\u002Fb>(Vedanā-skandha).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi Thọ Uẩn được hình thành thì các tư cách cảm giác sẽ xâm nhập vào tâm khơi động những trạng thái tùy thuộc vào Thọ Uần làm phát sinh \u003Cb>luyến ái \u003C\u002Fb>và \u003Cb>ngã chấp \u003C\u002Fb>về đời sống đồng thời sự phiền não khổ đau nương vào đó nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Như khi gặp một chuyện không vừa lòng thì cảm giác \u003Cb>khổ \u003C\u002Fb>nảy sinh. Bình thường ta mong muốn điều trái ý gây khó chịu ấy chấm dứt. Nếu điều khó chịu ấy không chấm dứt mà lại tiếp tục tăng thêm thì sự khó chịu mỗi lúc mỗi chồng chất và lòng sân nộ không được thỏa mãn thì sự \u003Cb>Khổ Khổ \u003C\u002Fb>(Duḥkha-duḥkha) xuất hiện. Tức là khi \u003Cb>Phi Hữu Ái \u003C\u002Fb>(Abhāva-tṛṣṇā) tác động lên thân tâm thì \u003Cb>Khổ Khổ \u003C\u002Fb>xuất hiện.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: một người bị đau răng sẽ thọ nhận cảm giác khó chịu. Sau khi tìm mọi phương cách để xóa bỏ cảm giác đau nhức ấy nhưng vẫn không được và người đó lại không tự chủ nổi thì dẽ sinh cảm giác bực tức oán giận nghĩa là càng tăng thêm cảm giác đau khổ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Khi gặp một chuyện vui, ta cảm thấy hài lòng. Bình thường ta muốn cảm giác khoan khoái vui vẻ ấy tồn tại mãi mãi, nhưng thật ra cảm giác vui vẻ ấy sẽ tự động chấm dứt để thay thế bằng cảm giác khác, trong khi ta lại muốn cảm giác vui này tồn tại mãi bên mình. Do lòng tham ái không được thỏa mãn thì nỗi khổ đau luyến tiếc sự tan hoại hiện ra, hay sự \u003Cb>Hoại Khổ \u003C\u002Fb>(Vṛtti-duḥkha) xuất hiện. Tức là khi \u003Cb>Hữu Ái \u003C\u002Fb>(Bhava-tṛṣṇā) tác động lên thân tâm thì sự \u003Cb>Hoại Khổ\u003C\u002Fb> xuất hiện.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: hai người yêu nhau tha thiết và muốn được chung sống cùng nhau. Nhưng duyên phận không chiều lòng người, dẫn đến sự chia ly. Từ đấy trở về sau, người này luôn ôm ấp sự thương nhớ người kia và dấy lên sự trách móc oán hận cả đời.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cb>TÌNH HẬN\u003C\u002Fb>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>“\u003Ci>Gặp gỡ nhau rồi xa cách nhau\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Lòng riêng riêng chất chứa u sầu\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Ai xui duyên vỡ đường tơ đứt\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Cho nát tâm hồn, hận khắc sâu?!…\u003C\u002Fi>\u003Ci>&nbsp;\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Ci>Người cứ lạnh lùng mãi thế sao?\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Có hay tim hận, máu sôi trào\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Bao đêm trằn trọc, hồn cay đắng\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Ai khiến ân tình vướng đớn đau?!…\u003C\u002Fi>\u003Ci>&nbsp;\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Ci>Tình lỡ xui hồn than oán than\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Buồn thương yêu ghét cứ dâng tràn\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Ai đem cay đắng vào nhung nhớ\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Cho kẻ yêu đương chịu bẽ bàng?!…\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Ci>Mối hận này mang suốt cả đời\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Bao giờ nhắm mắt mới buông xuôi\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Tình ơi! Mi chính là chi thế ?\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Gây khổ cho lòng, hận chẳng nguôi!…”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Khi va chạm với trần cảnh mà ta không hiểu rõ bản chất hay thật tướng của nó, hoặc không lưu tâm đến nó thì trong tâm của ta sẽ phát sinh lòng \u003Cb>Si\u003C\u002Fb> kèm theo cảm giác không vui không khổ. Cảm giác bình thường sẽ tự động chấm dứt để thay thế bằng cảm giác khác. Nếu ta phát khởi mong muốn cảm giác dững dưng ấy tồn tại mãi mãi, hoặc ước mong trạng thái cảm giác khác hiện hữu mà không được, hoặc chỉ được trong một khoảng thời gian rồi lại biến mất thì lòng Si không được thỏa mãn, lúc đó sự \u003Cb>hành Khổ \u003C\u002Fb>(Saṃskrāra-duḥkha) xuất hiện. Tức là khi \u003Cb>Dục Ái \u003C\u002Fb>(Kāma-tṛṣṇā) tác động lên thân tâm thì \u003Cb>Hành Khổ\u003C\u002Fb> xuất hiện.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Trong ba trạng thái phiền não khổ đau này thì sự Khổ Khổ và Hoại Khổ có ý nghĩa và giá trị ngay trong đời hiện tại, còn sự Hành Khổ thì rất vi tế, bao trùm cả ba đời quá khứ hiện tại vị lai và sự Hành Khổ chỉ thật sự chấm dứt khi \u003Cb>luyến ái \u003C\u002Fb>và \u003Cb>ngã chấp\u003C\u002Fb> về đời sống bị tiêu diệt tận gốc rễ. Thế nên trong ba trạng thái thằng thúc phiền não thì lòng tham lam và lòng sân nộ tương đối dễ dứt sạch được, còn lòng si mê thì rất khó hủy diệt.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_\u003Cb>Tưởng \u003C\u002Fb>(Samjñā): là sự nhận biết của các cảm giác như hình sắc, âm thanh, mùi vị… kể cả nhận biết Ý Thức đang hiện diện.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Tưởng có tính \u003Cb>thủ tượng\u003C\u002Fb> nghĩa là lưu giữ các ấn tượng về hình ảnh, màu sắc, âm thanh…trong tâm để nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi tâm đối với thân, đối với cảnh…tạo ra các tướng nơi thân nơi cảnh rồi nương theo cảnh đó tướng đó đặt những tên gọi cho sự vật. Vì chấp trước cho rằng các cảnh danh ngôn ấy đều là \u003Cb>thật có \u003C\u002Fb>mà không hiểu được rằng các cảnh danh ngôn ấy chỉ là hư huyễn giả lập, nên che lấp Trí Tuệ không nhận chân được thật tướng của cảnh danh ngôn hay thật tướng của Tưởng. Lúc đó sự tri giác về các cảnh danh ngôn sẽ chồng chất lên nhau và phối hợp với sự cố chấp này tạo thành \u003Cb>Tưởng Uẩn \u003C\u002Fb>(Saṃjñā-skandha).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi Tưởng Uẩn được hình thành thì sự thỏa thích chấp nhận xâm nhập vào tâm, khơi động những trạng thái tùy thuộc Tưởng Uẩn làm phát sinh \u003Cb>luyến ái \u003C\u002Fb>và \u003Cb>ngã chấp \u003C\u002Fb>về đời sống, đồng thời sự phiền não khổ đau nương vào đó nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: thời Trung Cổ, một vài học thuyết đã nhận định rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ đồng thời mặt trời, mặt trăng với các ngôi sao đều chuyển động chung quanh trái đất. Nhiều người có quyền lực tuân theo học thuyết này, sẵn sàng gây hấn hoặc tàn hại bất kỳ ai có nhận định ngược lại.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>_\u003Cb>Hành \u003C\u002Fb>(Saṃskāra): những hoạt động tâm lý sau khi có Tưởng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Hành có tính \u003Cb>tạo tác \u003C\u002Fb>nghĩa là phối hợp các hoạt động của Tâm Ý để luân chuyển các tác nhân được gây nên qua các việc làm của \u003Cb>thân, miệng, ý \u003C\u002Fb>trong quá khứ tạo thành kết quả ở tương lai.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do tất cả sự vật kể cả ý niệm tư tưởng đều sinh rồi diệt, diệt rồi sinh theo luật \u003Cb>trùng trùng duyên khởi\u003C\u002Fb>. Vì không nhận biết được định luật \u003Cb>Nhân Duyên như Huyễn\u003C\u002Fb>, \u003Cb>\u003Ci>chính nơi sinh chẳng có cái gì đáng gọi là sinh, chính nơi diệt chẳng có cái gì đáng gọi là diệt\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb> mà lại chấp rằng \u003Cb>\u003Ci>thật có sinh, thật có diệt\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb> cho nên che lấp Trí Tuệ làm cho không nhận rõ được thật tướng của sự vật, ý niệm. Sự cố chấp này đã phối hợp với các chủng tử hiện hành trong tâm tạo thành \u003Cb>Hành Uẩn \u003C\u002Fb>(Saṃskāra-skandha).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi Hành Uẩn được hình thành thì sự phối hợp tư tưởng xâm nhập vào tâm, khơi động những trạng thái tùy thuộc Hành Uẩn làm phát sinh \u003Cb>luyến ái \u003C\u002Fb>và \u003Cb>ngã chấp \u003C\u002Fb>về đời sống, đồng thời sự phiền não khổ đau nương vào đó nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như các trạng thái của con người từ lúc \u003Cb>\u003Ci>sơ sinh, ấu nhi, thiếu nhi, thiếu niên, trung niên, bô lão, chết.\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb>..mỗi mỗi trạng thái đều sai biệt hoàn toàn kể cả hình vóc và tâm lý. Cho nên biết rằng đời người gồm có vô số đời sống nối tiếp nhau \u003Cb>tương tục giả \u003C\u002Fb>mà thành. Cũng như con sông được nhận biết là nhờ ở hai bên bờ sông chứ nước sông mỗi lúc mỗi tuôn chảy và nước trong sông hoàn toàn sai khác. Bởi không nhận biết được thật tướng của \u003Cb>Hành \u003C\u002Fb>nên chúng sinh đã khởi tham ái chấp trước, tranh đoạt danh vị tài sắc; hoặc lường gạt, trộm cắp, giết hại, áp bức, xâm hại… lẫn nhau, cứ mãi quay cuồng trong vòng tội ác và chịu đắm chìm trong nỗi thống khổ\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_\u003Cb>Thức \u003C\u002Fb>(Vijñāna): bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan gồm có \u003Cb>\u003Ci>Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức…\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb> tức là sự hiểu biết phân biệt, cho nên còn gọi là \u003Cb>năng thức\u003C\u002Fb>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Thức có tính \u003Cb>liễu biệt \u003C\u002Fb>nghĩa là phân biệt rõ ràng chủ khách, ta người, đây đó, thân sơ, thiện ác, tốt xấu…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Trong thực tế, các Thức theo nghiệp báo hiện ra thân thể cùng với môi trường sinh hoạt chung quanh của ta. Hàng ngày lại nhận thêm sự huân tập của các nghiệp mới mà chuyển biến không cùng. Vì mê lầm, ta tưởng rằng có một \u003Cb>bản ngã \u003C\u002Fb>riêng biệt đối lập với ngoại giới, rồi khởi chấp trước cho rằng sự nhận thức của ta mới chân chính và phán xét vạn hữu theo quan niệm riêng tư. Do đó, không hiểu rằng \u003Cb>sự hiểu biết chiếu soi \u003C\u002Fb>chỉ là cái dụng của \u003Cb>\u003Ci>Bản Thể không riêng biệt\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb> ví như làn sóng hiện ra trên biển cả. Sự nhận lầm \u003Cb>cái dụng \u003C\u002Fb>với \u003Cb>Bản Thể thanh tịnh\u003C\u002Fb> như thế đã che mờ Trí Tuệ làm cho ta không hiểu rõ được thật tướng của vạn hữu. Sự mê lầm này đã phối hợp với các sự hiểu biết trong tâm tạo thành \u003Cb>Thức Uẩn \u003C\u002Fb>(Vijñāna-skandha).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi Thức Uẩn được hình thành thì những trạng trái tùy thuộc Thức Uẩn làm phát sinh \u003Cb>luyến ái \u003C\u002Fb>và \u003Cb>ngã chấp \u003C\u002Fb>về đời sống, đồng thời sự phiền não khổ đau nương vào đó nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: một người mất tài sản lại nghi anh hàng xóm lấy trộm, cho nên nhận thấy mọi cử chỉ hành động của anh ta đều có tướng ăn trộm, đồng thời quyết đoán anh ta là kẻ xấu và oán ghét anh ta. Bởi thế mỗi khi gặp mặt anh ta, người này thường nảy sinh cảm giác khó chịu và nếu có dịp sẽ sẵn sàng gây hấn cùng anh ta.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Hoặc trước đây, ta ghét một kẻ sát nhân, nay gặp lại thì ta thường nảy sinh cảm giác chán ghét, sợ hãi và cương quyết lánh xa dù rằng hiện tại họ đã cải sửa tu tập\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cụ thể như vua \u003Cb>Ba Tư Nặc \u003C\u002Fb>(Prasenajit) kinh hoàng khi nghe tin Đức Phật nhận tên sát nhân \u003Cb>Vô Não \u003C\u002Fb>(Aṅguli-māla) vào Tăng Đoàn và dân chúng nước ấy vẫn hoảng sợ xa lánh Ngài, tuy rằng Ngài đã chứng quả \u003Cb>A La Hán \u003C\u002Fb>(Arhat)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.) Hoặc một bà mẹ cho con bú, săn sóc, vỗ về, chiều chuộng, nuôi nấng…cả cuộc đời, cả tâm hồn đều đặt vào đứa trẻ. Đức con lớn lên thành người, một người đê tiện cục súc, ngày ngày hành hạ chửi mắng bà mẹ. Nhưng bà mẹ vẫn bám níu lấy đứa con, nếu lý trí nổi lên phê phán thì bà lại vỗ về , che dấu bằng một tình thương!!!…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Ci>“Dù con ngỗ nghịch hoặc hiền ngoan\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Tình mẹ bao la mãi chẳng tàn\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Con mãi là con, con của mẹ\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Đứa con khờ dại, mẹ cưu mang”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, do tính \u003Cb>liễu biệt \u003C\u002Fb>mà Thức Uẩn thường nhận biết sai lầm về thực tại và từ đó chịu nhiều sự phiền não khổ đau bủa vây.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_ \u003Cb>Năm Uẩn\u003C\u002Fb> (Pañca-skandha) thường có khuynh hướng kết hợp Uẩn này với Uẩn kia, giao lưu chằng chịt, tác động qua lại, nhanh chóng liên tục tạo thành một nhóm khó thể phân chia. Trong đó Thức Uẩn bao trùm xuyên thấu các quá trình hoạt động của 4 Uẩn kia từ sinh đến diệt, khi là Quả lúc là Nhân để nảy sinh luyến ái và ngã chấp về đời sống. Hay rõ hơn Thức Uẩn chính là Tâm Thức bao gồm chủng tử của các Pháp do Hành huân tập để hình thành nghiệp báo tạo ra xác thân, đời sống hiện tại và môi trường sinh hoạt chung quanh đồng thời lại huân tập thêm các chủng tử mới để gây nên sự chuyển biến sinh diệt không ngừng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi thân căn va chạm với Trần cảnh (Sắc) thì nảy sinh sự rung động trên các dây thần kinh tạo thành cảm giác (Thọ), các cảm giác lại được hệ thần kinh giao cảm chọn lọc để hình thành các ấn tượng (Tưởng), các ấn tượng lại được suy diễn để tổng hợp tư tưởng (Hành) và sự phối hợp tư tưởng đã nảy sinh Nhận Thức (Thức) về Tự ngã và ngoại giới (Trong giai đoạn này Thức là quả của tiến trình hoạt động 4 Uẩn trước). Ngay khi nhận thức về Tự ngã và ngoại giới nảy sinh, vì mê lầm nhiễm trước cho rằng thật có Ta thật có vật nên đã khởi ý chấp trước cho rằng có một bản ngã riêng biệt và đã tác ý thúc đẩy các hoạt động tâm ý tác động lên sự lưu giữ các hình ảnh, màu sắc, âm thanh của tâm tưởng hình thành quan điểm cá nhân và dựa vào 6 Căn để cảm nhận Ngoại giới (Trong giai đoạn này Thức là Nhân thúc đẩy 4 Uẩn kia hoạt động)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ca href=\"\u002Fmedia\u002F2013\u002Fbat-nha-prajna\u002F5uan.png\">\u003Cimg data-attachment-id=\"1047\" data-orig-size=\"471,108\" data-comments-opened=\"0\" data-image-meta=\"{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;0&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;}\" data-image-title=\"5uan\" data-image-description=\"\" class=\"alignleft size-full wp-image-1047\" src=\"\u002Fmedia\u002F2013\u002Fbat-nha-prajna\u002F5uanbf83.png\" alt=\"5uan\" loading=\"lazy\">\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Sự tác động qua lại của các tiến trình trên xảy ra rất là nhanh chóng, chỉ một thoáng đã hiện hữu và tan biến biết bao nhiêu hình ảnh, màu sắc, âm thanh cũng như hiện hữu và tan biến biết bao nhiêu ý niệm, tư tưởng … Trong thực tế nhiều khi sự suy nghĩ, sự nhận biết phát xuất từ 5 Căn (Mắt, tai, mũi. Lưỡi, thân) nhưng lắm lúc nó phát khởi trong Tâm như khi hồi tưởng, mơ mộng, liên tưởng, tư tưởng … nên khi ta suy nghĩ về một điều gì thì nhiều lúc là khởi điểm của sự suy nghĩ do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nhưng thời gian sau nó thuộc về ý thức. Vì vậy, hầu như sự nhận biết phân biệt&nbsp; của ý thức bao trùm sự nhận biết của 5 Thức trước. Do giá trị chỉ đạo của ý thức nên nếu nhận thức sai lệch sẽ tác ý lầm lẫn và dẫn đến hành động sai trái. Còn nếu nhận thức đúng đắn sẽ tác ý chính xác và dẫn đến hành động chân chính.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Lại nữa, khi 6 Căn va chạm với 6 Trần thì 5 Uẩn phát sinh và Tâm lại dựa vào 6 Căn để nhận biết 6 Trần qua 5 Uẩn. Nhưng 5 Uẩn vừa hiện lên lại biến mất ngay, 5 Uẩn lúc này khác 5 Uẩn lúc trước và khác 5 Uẩn lúc sau. Do dùng sống 5 Uẩn liên tục mà Tâm luôn luôn xao động chẳng lúc nào yên, nên mỗi lúc nhận xét phân biệt Trần cảnh thì con người thường không thể hiểu rõ được thật tướng của Trần cảnh. Nói rõ hơn khi thân căn tiếp xúc với Trần cảnh thì trong Tâm nảy sinh phản ứng là muốn nhận rõ cái va chạm đó và ngay lúc phản ứng là muốn nhận rõ cái va chạm đó và ngay lúc phản ứng, Tâm đã phóng ra một phần tinh thần về hướng kích thích đó cho đến lúc đạt được cái điểm nhận thức thì chính phần tinh thần phóng ra đã khuôn đúc cho sự va chạm đó. Điều này có nghĩa là, nếu ta chỉ ngoại vật bằng một danh tự A thì cái mà ta nhận thức chính là vật A được bao trùm thêm phần tinh thần mà ta đã hướng tới nó. Vì thế ta thường nhận định ngoại giới theo sự chấp thủ của chính mình cho nên khó có thể nhận biết được thật tướng của vạn hữu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: Cùng nhìn một cái cây trong bóng tối thì đứa trẻ thấy đó là bóng ma, người cảnh sát thấy đó là kẻ gian, người chờ bạn tình thấy đó là người yêu … Hoặc ta đang buồn nản thì mọi cảnh vật dù có vui vẻ nhộn nhịp cũng không thể xóa tan nỗi buồn ấy được tức là “\u003Ci>Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ\u003C\u002Fi>”.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Với khuynh hướng nhận thức này, ta lại lưu chuyển hình ảnh, màu sắc, âm thanh khi va chạm với ngoại giới vào nội tâm để sắp đặt, liệt kê, phân loại các ấn tượng về ngoại giới và hình thành sự hiểu biết cá nhân. Từ đó trở về sau, lúc gặp một ấn tượng mới nào ta cũng đều nắm lấy và chuyên ngay vào phạm trù đã được thiết lập sẵn. Nếu ta thấy ấn tượng nào phù hợp với kinh nghiệm trước (Tri thức tiền nghiệm) thời trong nội tâm nảy sinh cái gọi là “\u003Cb>hiểu biết\u003C\u002Fb>”, nếu ấn tượng mới không phù hợp với kinh nghiệm trước, thì trong nội tâm nảy sinh cái gọi là \u003Cb>Không biết\u003C\u002Fb>” đồng thời bất kỳ một ấn tượng nào hiện hữu cũng được nội tâm thu nhận. Như thế từ tri thức tiền nghiệm (Chủng tử sinh hiện hành tiềm ẩn trong tâm) ta luôn luôn so sánh nó với các ấn tượng mới và lưu giữ thêm các ấn tượng này (huân tập thêm các chủng tử hiện hành) đã dần dần củng cố và hình thành cái gọi là Bản Năng hay Cá Tính. Vì sự huân tập các chủng tử hiện hành khác nhau mà kinh nghiệm của từng&nbsp; cá nhân cũng sai khác, do đó cùng tiếp xúc với một đối tượng nhưng sự nhận xét, hồi tượng, phán đoán của mỗi cá nhân khác nhau. Tuy nhiên do huân tập được các chủng tử hiện hành tương tự mà Bản Năng của nhiều cá nhân cũng có những đặc tính tương tự nhau và sự kiện này đã hòa hợp cùng nhau nảy sinh 3 cõi (Dục giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới), 6 nẻo (Trời, Người, A Tu La, Súc sinh, Quỷ đói, Địa Ngục) nghĩa là tùy theo sự huân tập các chủng tử hiện hành mà chúng sinh đều hàm chứa nghiệp chung và nghiệp riêng để chịu cùng sống chung một môi trường sinh hoạt nhưng lại có khuynh hướng sinh sống riêng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi bản năng hay cá tính được tạo lập thì các ấn tượng nào làm thỏa mãn cá tính ấy thì trong tâm ta nảy sinh \u003Cb>cảm giác khoan khoái vui vẻ\u003C\u002Fb> (Lạc Thọ), các ấn tượng nào không làm thỏa mãn cá tính ấy thì trong tâm ta nảy sinh \u003Cb>cảm giác bực bội khó chịu\u003C\u002Fb> (Khổ Thọ), còn ấn tượng nào không liên quan trực tiếp đến cá tính ấy thì trong tâm ta nảy sinh \u003Cb>cảm giác bình thường\u003C\u002Fb> (Xả Thọ). Cả ba loại cảm giác này đều bất định và thường xuyên thay đổi các Thể trạng cho nhau tùy theo sự tiếp xúc giữa các Căn và các cảnh. Do không nhận biế được các cảm giác chỉ là hư giả vô thường mà lại cố chấp cho rằng thật có nên tâm trí ta luôn luôn nảy sinh sự khoan khoái gìn giữ, khát khao đòi hỏi và tìm kiếm các cảm giác làm thỏa mãn cá tính. Cũng như chán ghét, sợ hãi, xa lìa và tìm cách hủy diệt các cảm giác không làm thỏa mãn cá tính. Vì thế ta thường tác ý sai lầm, phát khởi lòng tham ái chấp thủ và nương vào đó mà sự phiền não khổ đau nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nói cách khác, khi các Căn va chạm với các cảnh thì nội tâm thường phản ứng những cảm xúc (tức phản ứng tâm lý) như: giận hờn, thương mến, ghét bỏ, dửng dưng … Cả ba cảm xúc bất thiện của con người là \u003Cb>Tham\u003C\u002Fb> (Rāga), \u003Cb>Sân \u003C\u002Fb>(Dveṣa), \u003Cb>Si\u003C\u002Fb> (Moha) cũng phát sinh qua sự va chạm này. Nếu tâm ý khởi theo các vọng niệm Tham, Sân, Si, \u003Cb>Mạn\u003C\u002Fb> (Māna), \u003Cb>Tà kiến\u003C\u002Fb> (Mithyā dṛṣṭi), \u003Cb>Nghi ngờ\u003C\u002Fb> (vicikitsā), \u003Cb>Thụy miên\u003C\u002Fb> (Middha), \u003Cb>Trạo cử\u003C\u002Fb> (Auddhatya), \u003Cb>Vô tàm\u003C\u002Fb> (Āhrīkya), \u003Cb>Vô quý\u003C\u002Fb> (Anapatràpya), nghĩa là tiếp nhận đối tượng với một phán đoán chủ quan tùy theo tình cảm thì con người đễ buông thả tư tưởng, lời nói, hành động của mình theo ý riêng và bất chấp sự tàn hại xảy ra đối với ngoại giới để nghiệp chướng mãi mãi chất chồng và dòng nghiệp sẽ dẫn dắt đến cảnh giơi thích ứng để chịu sự khổ não. Như thế bất cứ loại cảm giác nào phát sinh, dù thích thú hay bình thường; con người cũng say mê, ôm ấp, bám dính lấy nó và đánh thức lòng tham dục. Tư cách vừa lòng và luyến ái đối với vật gì nghĩa là tâng tiu ôm ấp kiếp sống, chính sự luyến ái này gây ra cái nghiệp tái sinh rồi tuần tự lôi cuốn theo muôn ngàn nỗi thống khổ như: già nua, bệnh tật, sầu não, chết chóc, oán hận … và nỗi khổ cũng thêm chồng chất.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do vậy nguyên nhân sâu xa để làm nảy sinh dòng sống 5 Uẩn chính là \u003Cb>sự không nhận biết thực tại\u003C\u002Fb> (Vô minh: Avidyā) và điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng dòng sống 5 Uẩn chính là \u003Cb>sự tham ái chấp thủ\u003C\u002Fb> (Tham, Sân, Si).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nếu bậc Trí Giả nào luôn luôn nhận biết thực tại, thông tỏ các Pháp như thật: \u003Cb>Hình tướng của Pháp như thế, Tự tính của Pháp như thế, Bản Thể của Pháp như thế, Năng lực của Pháp như thế, tác dụng của Pháp như thế, Chính Nhân của Pháp như thế, Trợ duyên của Pháp như thế, Kết quả của Pháp như thế, Nghiệp báo của Pháp như thế\u003C\u002Fb> và \u003Cb>trước sau rốt ráo của Pháp như thế\u003C\u002Fb>. Tức là khi va chạm với Trần cảnh, Tâm trí các Ngài thu nhận sự vật bằng một sự bình thản khách quan và sáng suốt giống như tấm gương phản ảnh trung thực cảnh vật mà không bị đối tượng lôi cuốn cho nên các Ngài thấu tỏ và làm chủ được từng khâu hoạt động của 5 trạng thái: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức không dễ cho chúng chồng chất hoặc kết hợp với nhau tạo thành Uẩn được. Khi ấy mọi điều kiện để phát sinh luyến ái và ngã chấp về đời sống không có chỗ nương tựa nên phải tan hoại nghĩa là Tham ái chấp thủ bị tiêu diệt tận gốc rễ và phiền não khổ đau không thể nảy sinh. Nói rõ hơn, khi Uẩn không tạo thành Uẩn được thì 5 Uẩn tan hoại tức là \u003Cb>Ngũ Uẩn Giai Không\u003C\u002Fb>. Các bậc Trí Giả do thoát khỏi năng lực tác hại của 5 Uẩn nên đã xa lìa và chấm dứt mọi phiền não khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Để thực hiện được điều trên, Đức Phật thường khuyên nhủ giáo hóa chúng sinh hãy tinh tiến tu tập Thiền Định để đưa đến \u003Cb>chính niệm tỉnh giác \u003C\u002Fb>và đưa đến chặt đứt hẳn các \u003Cb>Lậu Hoặc \u003C\u002Fb>(phiền não mê mờ)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kinh \u003Cb>Tăng Chi Bộ\u003C\u002Fb> (P:Aṅguttara-nikāya) có ghi: “\u003Ci>Ở đây, này các Tỳ Kheo! Với các Tỳ Kheo: \u003Cb>Thọ \u003C\u002Fb>khởi lên được rõ biết, \u003Cb>Thọ \u003C\u002Fb>an trú được rõ biết, \u003Cb>Thọ \u003C\u002Fb>chấm dứt được rõ biết. \u003Cb>Tưởng \u003C\u002Fb>khởi lên được rõ biết, \u003Cb>Tưởng \u003C\u002Fb>an trú được rõ biết, \u003Cb>Tưởng \u003C\u002Fb>chấm dứt được rõ biết. \u003Cb>Tầm \u003C\u002Fb>khởi lên được rõ biết, \u003Cb>Tầm \u003C\u002Fb>an trú được rõ biết, \u003Cb>Tầm \u003C\u002Fb>chấm dứt được rõ biết. Này các Tỳ Kheo! Đây gọi là \u003Cb>Định tu tập\u003C\u002Fb>. Do tu tập làm sung mãn đưa đến chính niệm tỉnh giác.\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Ở đây, này các Tỳ Kheo! Tỳ kheo quán sinh diệt trong \u003Cb>năm Thủ Uẩn\u003C\u002Fb>. Đây là \u003Cb>sắc\u003C\u002Fb>, đây là \u003Cb>sắc \u003C\u002Fb>tập khởi, đây là \u003Cb>sắc \u003C\u002Fb>chấm dứt. Đây là \u003Cb>thọ\u003C\u002Fb>, đây là \u003Cb>thọ \u003C\u002Fb>tập khởi, đây là \u003Cb>thọ \u003C\u002Fb>chấm dứt. Đây là \u003Cb>tưởng\u003C\u002Fb>, đây là \u003Cb>tưởng \u003C\u002Fb>tập khởi, đây là \u003Cb>tưởng \u003C\u002Fb>chấm dứt. Đây là \u003Cb>hành\u003C\u002Fb>, đây là \u003Cb>hành \u003C\u002Fb>tập khởi, đây là \u003Cb>hành \u003C\u002Fb>chấm dứt. Đây là \u003Cb>thức\u003C\u002Fb>, đây là \u003Cb>thức \u003C\u002Fb>tập khởi, đây là \u003Cb>thức \u003C\u002Fb>chấm dứt. Này các Tỳ Kheo! Đây gọi là \u003Cb>Định tu tập\u003C\u002Fb>. Do làm sung mãn đưa đến đoạn tận các Lậu Hoặc” \u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>[\u003Ci>Bản dịch của Thượng Tọa \u003C\u002Fi>\u003Cb>Thích Minh Châu\u003C\u002Fb>]\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Chúng ta cũng biết rằng động lực vận chuyển dòng nghiệp báo đau khổ triền miên chính là sự Tham ái chấp thủ. Một khi đã diệt trừ được tận gốc rễ thế lực của tham ái chấp thủ (\u003Ci>nghiêm trì Giới luật để diệt Tham, hành trì Thiền Định để diệt Sân, tu tập Trí Tuệ để diệt Si\u003C\u002Fi>), thì dòng nghiệp báo bị cắt đứt nghĩa là \u003Cb>Hành Uẩn\u003C\u002Fb> tan hoại và 4 Uẩn kia (Sắc, Thọ, Tưởng, Thức) không thể cùng nhau kết hợp để sinh tử luân hồi được. Đây chính là sự tan rã của 5 Uẩn hay Ngũ Uẩn giai Không.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">“\u003Ci>Lúc đó Nhiễm Pháp được diệt trừ, Tịnh Pháp tăng trưởng và ngay lúc ấy tự mìh sẽ giác ngộ, thực chứng và an trú trí tuệ một cách sung mãn”\u003C\u002Fi> (Kinh \u003Cb>Potthāpādā\u003C\u002Fb>).\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_Theo ý nghĩa khác thì 5 Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức chỉ là những trạng thái lưu chuyển thường xuyên và kết hợp chồng chất với nhau chứ không có một cá ngã riêng biệt. Hay 5 Uẩn được tạo thành bởi những yếu tố bất định nên chính nó cũng bất định và không có&nbsp; thực hữu vì nó luôn luôn dị biến để trở thành cái không phải là chính nó theo quy luật Trùng Trùng Duyên Khởi. Vì thế Đức Phật đã hình thành giáo lý \u003Cb>Vô ngã\u003C\u002Fb> (Anātman) hướng dẫn chúng sinh quán sát tường tận thân tâm của mình để diệt trừ luyến ái và ngã chấp về đời sống.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Chúng ta cần phải hiểu rằng giáo lý Vô NGÃ (Anātman, hoặc Nir-ātman) không chủ trương chẳng có một cái TA nào cả mà chỉ trình bày một cái TA hiện hữu không có thật thể và luôn luôn biến đổi không ngừng theo tiến trình Nhân quả. Tức là không có một Bản ngã hay cái ta trường tồn bất biến như Đại Đức \u003Cb>Buddha-ghoṣa\u003C\u002Fb> (Phật Âm) có nói: “\u003Cb>\u003Ci>Không có một cái Tôi tạo nghiệp, cũng không có cái Tôi gặt quả, chỉ có dòng nghiệp báo triền miên\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb>”.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do vậy, để chỉ trạng thái giả hợp tạm thời của 5 Uẩn, Đức Phật đã khuyến hóa chúng sinh quán sát 5 yếu tố cấu thành Bản Ngã như sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\"> \u003Cb>Sắc như Phù mạt\u003C\u002Fb>: về phương diện vật chất, xác thân của con người tan hợp hợp tan như bọt nước trôi dạt không ngừng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\"> \u003Cb>Thọ như Thủy bào\u003C\u002Fb>: những cảm giác vui khổ của Thân và Tâm đều sinh diệt bất thường giống như những bong bóng nước.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\"> \u003Cb>Tưởng như ảo ảnh\u003C\u002Fb>: Tri giác tựa như những cảnh giả mà người đi trong sa mạc thường nhìn thấy chỉ là những ảnh ảo do mắt bị quáng nắng nhận biết.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\"> \u003Cb>Hành như Hương giá\u003C\u002Fb>: những tác động Thiện ác hay hoạt động nội tâm đều không vững chắc như loại cây mềm yếu dễ cuốn theo chiều gió.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\"> \u003Cb>Thức như ảo thuật\u003C\u002Fb>: Tâm thức của con người biến ảo như trò ma thuật và sự biến đổi của Tâm nhanh gấp 16 lần so với sự biến đổi của vật chất.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Để có thể diệt trừ thế lực của năm Uẩn, Đức Phật dạy quán sát như sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>“Ở đây, này các tỳ kheo! Phàm \u003Cb>sắc \u003C\u002Fb>gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Tất cả các \u003Cb>sắc\u003C\u002Fb>,\u003Cb> \u003C\u002Fb>vị ấy thấy như thật với chính Trí Tuệ rằng “\u003Cb>cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi\u003C\u002Fb>”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Phàm có \u003Cb>thọ \u003C\u002Fb>gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Tất cả các \u003Cb>cảm thọ\u003C\u002Fb>,\u003Cb> \u003C\u002Fb>vị ấy thấy như thật rằng “\u003Cb>cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi\u003C\u002Fb>”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Phàm có \u003Cb>tưởng \u003C\u002Fb>gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Tất cả các \u003Cb>tưởng\u003C\u002Fb>,\u003Cb> \u003C\u002Fb>vị ấy thấy như thật với chính Trí Tuệ rằng “\u003Cb>cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi\u003C\u002Fb>”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Phàm có \u003Cb>hành \u003C\u002Fb>gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Tất cả các \u003Cb>hành\u003C\u002Fb>,\u003Cb> \u003C\u002Fb>vị ấy thấy như thật với chính Trí Tuệ rằng “\u003Cb>cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi\u003C\u002Fb>”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Phàm có \u003Cb>thức \u003C\u002Fb>gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Tất cả các \u003Cb>thức\u003C\u002Fb>,\u003Cb> \u003C\u002Fb>vị ấy thấy như thật với chính Trí Tuệ rằng “\u003Cb>cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi\u003C\u002Fb>”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>(Tăng Chi Bộ Kinh_Phẩm Chiến Sĩ. Bản dịch của Thượng Tọa \u003Cb>Thích Minh Châu\u003C\u002Fb>)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_Ngoài ra Đức Phật còn chia chẻ cái Ta thành nhiều thành phần khác nhau để phá vỡ sự luyến ái và ngã chấp về đời sống của chúng sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nếu người nặng chấp về tinh thần (Tâm) để làm Ngã thì Đức Phật nói 5 Uẩn chia chẻ tinh thần ra làm 4 phần là Thọ,Tưởng, Hành, Thức để phá chấp, còn Sắc uẩn không cần chia chẻ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nếu người nặng chấp về xác thân (vật chất) làm Ngã thì Đức Phật nói 12 Xứ, chia chẻ Sắc thành 12 phần là 6 Căn và 6 Trần để phá chấp.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nếu người nặng chấp cả tinh thần và vật chất làm Ngã thì Đức Phật nói 18 Giới chia chẻ cả tinh thần và vật chất ra là 18 phần là 6 Căn, 6 Trần, 6 Thức để phá chấp.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Song song với sự chia chẻ cái Ta thành nhiều phần như thế, Đức Phật luôn luôn nhắc nhở chúng sinh quán chiếu như thật với chính Trí Tuệ là “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như vậy, cái Ta hay 5 Uẩn chỉ là một hiện tượng tâm vật lý luôn luôn biến đổi chứ không phải là một Chân Ngã thường tồn vĩnh cửu.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Cb>Tạp A Hàm\u003C\u002Fb> 21 có ghi: \u003Ci>“Ví dụ người kia nhìn xem tường tận những quả bóng nước trôi trên sông Hằng. Sau khi quán sát chu đáo, người ấy thấy rằng những quả bóng đó đều trống rỗng, không thực tế và chẳng có một bản chất nào rõ rệt cả. Cũng như thế ấy, thầy Tỳ Kheo chăm chú quán tưởng về các Uẩn: \u003Cb>Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức \u003C\u002Fb>dù thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai dù gần hay xa. Thầy Tỳ Kheo quán sát chu đáo diễn tiến của 5 Uẩn và hiểu đó là không thực tế, trống rỗng, chẳng có tự ngã”.\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>[Bản dịch của Thượng Tọa\u003Ci> \u003C\u002Fi>\u003Cb>Thích Minh Châu\u003C\u002Fb>]\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một khi thấu ngộ rõ ràng 5 Uẩn chỉ là trạng thái giả hợp tạm thời, luôn luôn biến đổi và không có thực thể (Ngũ Uẩn giai Không) thì các bậc Giác Giả sẽ diệt tận luyến ái, dập tắt ngã chấp, vượt qua thế lực ràng buộc của 5 Uẩn, chứng đắc Chính Trí Tuệ, chấm dứt sự phiền não khổ đau và cắt đứt vĩnh viễn sự sinh tử luân hồi.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_Trạng thái vượt qua thế lực ràng buộc của 5 Uẩn, chứng đắc Chính Trí Tuệ, chấm dứt sự phiền não khổ đau và cắt đứt vĩnh viễn sự sinh tử luân hồi còn được minh họa như sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi \u003Cb>Pháp Giới\u003C\u002Fb> (Dharma Dhàtu) đã hoạt hiện thành muôn ngàn cảnh tượng và giả hợp thành các sinh động vật trên Thế Giới này với Thế Giới khác. Đặc tính nổi bật trong các sinh động vật ấy là sự ngu si mê lầm về hình tướng (Nghi:Vicikitsā). Từ sự mê lầm này mà các Cảnh Giới Tri Thức của loài Hữu Tình được tạo lập hay \u003Cb>Thức Uẩn\u003C\u002Fb> (Vijñāna-skandha) được tạo thành. Chúng Hữu Tình lại dựa vào sự hiểu biết của kinh nghiệm Tri Thức mà móng khởi&nbsp; Ý Tưởng chiếm hữu vạn vật làm của riêng cho mình (Tham: Lobha). Trong khi chiếm hữu, có lúc được có lúc không nên Tâm Thức đã tạo lập sự u tối, mê muội làm cho Tâm Trí mờ ám không nhận rõ được thực chất của cảnh tượng, nghĩa là \u003Cb>Sắc Uẩn\u003C\u002Fb> (Rūpa-skandha) được tạo lập. Từ đây, hình tướng của vạn hữu đã phối hợp với Tâm Thức tạo nên sự đam mê, giận giữ, chấp trước vào hình dáng của vật chất (Sân:Dveṣa) và giả hợp thành cảm giác của tự thân, nghĩa là \u003Cb>Thọ Uẩn\u003C\u002Fb> (Vedanā-skandha) được tạo thành. Do tham luyến vào cảm giác thích hợp với Bản Thân, chúng Hữu Tình mỗi lúc mỗi mê lầm chấp trước hơn vào sự \u003Cb>Thực Hữu\u003C\u002Fb> của vạn vật và xây dựng cho mình những quan điểm riêng biệt về Thế Giới cảnh tượng (Si: Moha) nghĩa là \u003Cb>Tưởng Uẩn\u003C\u002Fb> (Saṃjña-skandha) được tạo lập. Do quan điểm riêng tư, chúng Hữu Tình khó lòng chấp nhận quan điểm khác (Mạn:Māna) nên sự ghen ghét đã được giả hợp trong Tâm Ý và nương vào đó chúng Hữu Tình tự buông thả Thân Khẩu Ý của mình trong các sự đam mê này để tự trói buộc mà trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi, nghĩa là \u003Cb>Hành Uẩn\u003C\u002Fb> (Saṃskāra-skandha) được tạo lập. Khi 5 Uẩn hình thành thì chúng Hữu Tình thực sự chấp nhận rằng “\u003Cb>Có Ta, có Người, có Chúng Sinh, có Thọ Giả\u003C\u002Fb>”. Từ đây mọi mê lầm đắm chấp (Tham Ái Chấp Thủ ) ngày càng được củng cố bền chắc, tạo thành năng lực lôi cuốn chúng Hữu Tình đi vào nẻo khổ đau trói buộc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Trong lúc đắm chìm lặn hụp nơi biển sinh tử khổ đau, con người tự dấy lên ý tưởng là “Làm sao và làm thế nào Ta mới thoát khỏi sự khổ đau trói buộc này ? !…” Từ đấy con người đã tự tìm hiểu mọi phương cách giải thoát qua Kinh Điển, kinh nghiệm của người đi trước, lời giảng dạy của Đại Sư… và tự xây dựng cho mình phương pháp cải sửa Thân Tâm \u003Ci>(\u003Cb>Chính Pháp Cá Nhân\u003C\u002Fb>\u003C\u002Fi>) đồng thời quyết Tâm tu tập, chân thành tịnh hóa Tâm Thức nên dần dần thoát ly được sự trói buộc của Tham Ái Chấp Thủ, nhận chân được Thực Tính của vạn hữu, dứt trừ sự đau khổ, chứng đạt sự sáng suốt tuyệt vời. Khi Tâm Thức đã được sáng suốt thì sự ngu độn của các Thú Tính và ảo tưởng về hình tướng đều được chuyển hóa thành cái biết chân chính và trở thành cái Trí Thánh Thiện. Đây là lúc \u003Cb>Thức Uẩn\u003C\u002Fb> tự phá vỡ hình thức giả hợp của Tâm Ngã Chấp (diệt Nghi) để biểu lộ cái Trí thâm nhập khắp nơi của Pháp Giới, nghĩa là \u003Cb>Pháp Giới Thể Tính Trí\u003C\u002Fb> (Dharma-dhātu-prakṛti-jñāna) lóe sáng trong Tâm Thức và chuyển hóa Tâm Thức Cá Vị thành Tâm Thức Vũ Trụ.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Do mọi ảo tưởng chiếm hữu hình tướng của vạn vật đã bị phá nát (diệt Tham) thì sự u tối, mê ám của Tâm Thức cũng diệt trừ tận gốc rễ. Nghĩa là mọi sự sống động trong Thế Giới được phản ánh một cách như thật trong Tâm Thức người tu hành. Đây là lúc \u003Cb>Sắc Uẩn\u003C\u002Fb> tự tan rã để phô bày hình tướng chân thật và hiển lộ cái Trí phản chiếu mọi sự vật mà không dính mắc vào sự vật nào , cũng không bị các sự vật ấy động chạm hay lay chuyển được. Tức là \u003Cb>Đại Viên Cảnh Trí\u003C\u002Fb> (Ādarśa-jñāna) hiển hiện trong Tâm Thức Bất Động của người tu hành.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Khi mọi sự sống động của vạn hữu được phản ánh một cách như thật trong Tâm Thức thì sự đam mê ích kỷ chấp trước vào hình dáng của vật chất sẽ bị hủy diệt (diệt Sân) và mọi cảm giác của Tự Thân đều được chuyển hóa theo Tâm Thức Vô Ngã khởi thành đức tính Từ Bi, thành tình thương bao quát, thành tình cảm đồng nhất. Đây là lúc Thọ Uẩn tự tan rã để phô bày Tâm Thức Từ Bi Bình Đẳng. Tức là \u003Cb>Bình Đẳng Tính Trí\u003C\u002Fb> (Samatā-jñāna) đang tỏa rạng trong Tâm Thức của người tu hành.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">.)Do sự tham luyến vào các cảm giác thích hợp với Bản Thân đã được chuyển hóa thành tình thương phổ quát không đắm chấp (diệt Si) nên mọi công năng phân biệt của Tâm Thức đều trở thành sự quán tưởng của Trí xem xét mọi tướng chung tướng riêng của các Pháp không hề bị ngăn ngại. Đây là lúc Tưởng Uẩn tan rã để phô bày Tâm Thức Tự Giác viên mãn, khéo léo quán sát vạn hữu như thật nghĩa là \u003Cb>Diệu Quán Sát Trí\u003C\u002Fb> (Pratyavekṣana-jñāna) hiển hiện trong Tâm Thức trong sáng của người tu hành.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Khi vạn Pháp được xem xét một cách rõ ràng như thật thì sự kiêu ngạo, ganh ghét, chấp ý của Tâm Thức được chuyển hóa thành sự kiên định không lay chuyển trong mọi sự việc của tinh thần (diệt Mạn) Đây là lúc Hành Uẩn tự tan rã để phô bày cái Trí khéo léo thi hành mọi việc của Thế Gian chuyển chúng thành phương tiện giải thoát. Tức là \u003Cb>Thành Sở Tác Trí\u003C\u002Fb> (Kṛtyamuṣṭhāna-jñāna) hiển hiện trong tính chất hoạt động phổ biến của Tâm Linh Giải Thoát.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như vậy , nhờ công phu tu tập làm nảy nở sự thấy biết như thật trong Thiền Định thì 5 món độc (Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi) đã bị diệt tận gốc rễ và thúc đẩy 5 Uẩn tự tan rã (Ngũ Uẩn Giai Không) để phô bày \u003Cb>5 Trí Như Lai\u003C\u002Fb> là Giác Tính trong suốt uyên nguyên (\u003Cb>\u003Ci>Phật Tính\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb>) vốn có từ xưa trong Bản Tâm của mỗi một chúng Hữu Tình.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_Để tạm hiểu đôi phần về \u003Cb>ngũ Uẩn giai không\u003C\u002Fb>, chúng ta có thể quán sát các hiện tượng sau:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">1_ Quán sát\u003Cb> hình thể vật chất \u003C\u002Fb>(Rūpa-skandha):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.) Quán sát \u003Cb>bản thân\u003C\u002Fb>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Xác thân ta do \u003Cb>bốn Đại \u003C\u002Fb>hòa hợp tạo thành. Trong đó\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, tim, óc, gan, bao tử, l1 lách, thận, phổi, màng ruột, phân, mật.. thuộc về \u003Cb>đất \u003C\u002Fb>(Pṛthivi)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Dịch tiêu hóa, bọt, rãi, máu, mủ, mồ hôi, nước mắt, nước tiểu… thuộc về \u003Cb>nước \u003C\u002Fb>(Ab)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hơi lạnh, hơi nóng, hơi ấm thuộc về \u003Cb>lửa \u003C\u002Fb>(Tejo)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Hơi thở cùng sự lay động thuộc về \u003Cb>gió \u003C\u002Fb>(Vāyu)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi bốn Đại phân ly thì thân này ở chỗ nào? Thế nên biết rằng Thân này hoàn toàn không có thật thể, chỉ do hòa hợp mà tạm có tướng, chẳng khác gì huyễn hóa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>đời người\u003C\u002Fb>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ngoài sự quán sát thân thể của người khác tương đồng với thân thể của mình. Chúng ta nên chú ý các trạng thài của con người từ lúc \u003Cb>\u003Ci>sơ sinh, ấu nhi, thiếu nhi, thiếu niên, trung niên, bô lão, chết.\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fb>..mỗi mỗi trạng thái đều sai biệt hoàn toàn kể cả hình vóc và tâm lý. Cho nên biết rằng đời người gồm có vô số đời sống nối tiếp nhau \u003Cb>tương tục giả \u003C\u002Fb>mà thành, chứ không có riêng Bản Ngã bất biến.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp; .)Quán sát \u003Cb>động vật, thực vật, cảnh vật\u003C\u002Fb>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Chúng ta nới rộng phạm vi quán sát lên tất cả các loài động vật, thực vật, cảnh vật… sẽ nhận thấy rằng: trong vạn hữu này, mọi sự mọi vật đều do hòa hợp mà thành chứ không có Tự Ngã riêng biệt, đồng thời mọi sự mọi vật đều phải trải qua các giai đoạn \u003Cb>sinh ra, trụ giữ, biến đổi, hủy diệt \u003C\u002Fb>chứ chẳng phải là Thường Hằng\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>hình sắc\u003C\u002Fb> (Rūpa-viṣaya):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Hình sắc cảnh vật nương vào không gian được chiếu rọi bởi ánh sáng dẫn truyền đến con mắt, tác động lên tế bào thần kinh của mắt (nhãn căn:Cakṣur-indriya) gây nên cảm giác và nhận biết về hình sắc cảnh vật. Nếu tách rời các Duyên ấy ra thì hình sắc cảnh vật không thể hiển hiện được. Ví dụ: Người bị hủy hệ thần kinh Thị Giác, dù có mở to đôi mắt cũng không thể nhận biết được cảnh vật. Hoặc người mở mắt khi ngủ và người chết cũng không&nbsp; nhận biết được hình sắc. Hoặc trong bóng đêm, ta khó có thể nhận biết rõ ràng hình sắc được.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Có người mắt lành, nhìn lên hư không. Lúc đầu chẳng thấy chi, sau khi mỏi mắt thì nhìn thấy các hoa đốm nhảy lăng xăng giữa hư không. Khi hết mỏi mắt lại nhìn thấy hư không chẳng có chi hết.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng nhìn một ngọn lửa đèn. Người mắt lành nhìn thấy ánh sáng đèn bình thường, còn người bị nhặm mắt thì nhìn thấy hoa đèn nở chung quanh ánh đèn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng nhìn một bông hoa hồng nhưng cảm nhận về hình sắc của người mắt lành, người cận thị, người viễn thị , người loạn thị đều khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cầm một cây lửa quay thật nhanh, ta sẽ thấy một vòng tròn lửa. Đúng ra vòng tròn lửa không thật có mà chỉ là một cây lửa \u003Cb>tương tục giả \u003C\u002Fb>quay tròn tạo thành. Như thế, một vật không có thật mà ta thấy dường như có thật.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như vậy chỉ do nhiều Duyên hòa hợp mà hình sắc được hiện hữu, lại tùy Duyên được nhận biết khác nhau. Do đó, hình sắc chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>âm thanh \u003C\u002Fb>(Śabda-viṣaya):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người cầm cái dùi đánh vào một cái chuông đồng sẽ tạo nên âm thanh ngân vang, Khi dừng chuông một lúc thì âm thanh biến mất. Sỡ dĩ tiếng chuông được nghe thấy là do chiếc dùi tác động lên cái chuông, gây tác động lên những phần tử không khí xung quanh tạo thành làn sóng âm đến phần tử không khí sau cùng kích động bên lỗ tai, lại động đến màng tai truyền vào tế bào thần kinh của tai (Nhĩ Căn: Śrotra-indriya) gây nên cảm giác về âm thanh. Tùy theo vị trí xa gần mà tiếng chuông được nghe thấy lớn nhỏ khác nhau, hoặc không nghe thấy.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng nghe một âm thanh. Nhưng sự cảm nhận của người chú tâm, người lơ đãng, người thích tai, người lãng tai đều khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Con người bình thường không có khả năng cảm nhận được các siêu âm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Người bị điếc và người chết. Tuy có lỗ lai nhưng không thể nhận biết được âm thanh chung quanh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế âm thanh chỉ do nhiều Duyên hòa hợp mà thành, lại thường xuyên thay đổi âm trạng và tùy Duyên được nhận biết khác nhau. Do đó, âm thanh chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>mùi ngửi\u003C\u002Fb> (Gandha-viṣaya):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một vật bốc hơi, các phân tử khuếch tán trong không gian truyền đến lỗ mũi, tác động lên tế bào thần kinh của mũi (Tỵ Căn: Ghrāṇa-indriya) gây nên cảm giác về mùi ngửi. Nếu tách rời các Duyên ấy ra thì mùi ngửi không thể hiển hiện được. Ví dụ: người tịt mũi và người chết, tuy còn lỗ mũi nhưng không thể nhận biết được mùi ngửi chung quanh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cá tươi để lâu thì thành tanh tưởi. Nhưng khi đem ướp muối, xả, tiêu, ớt rồi chiên với dầu mỡ thì lại ngửi thấy mùi thơm.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi đi ngang qua đống rác, ta ngửi thấy mùi hôi thối khó chịu. Nếu ngay lúc đó ta áp chiếc khăn tay có tẩm nước hoa lên mũi thì mùi khó chịu trước kia liền tiêu tan.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng ngửi mùi tỏi chiên. Nhưng cảm nhận của người ưa thích và người không ưa thích khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, mùi ngửi do nhiều Duyên hòa hợp mà hiện hữu. Lại thường xuyên thay đổi trạng thái và tùy theo Duyên được nhận biết khác nhau. Do đó, mùi ngửi chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>vị nếm \u003C\u002Fb>(Rasa-viṣaya):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một vật khi tiếp xúc với cái lưỡi. Các phân tử hóa chất của vật ấy tác động lên tế bào thần kinh của cái lưỡi (Thiệt Căn:Jihva-indriya) gây nên cảm giác về vị nếm. Nếu tách rời các Duyên ấy ra thì vị nếm không thể hiện hữu được. Ví dụ: người mất cảm giác ở lưỡi và người chết, tuy còn cái lưỡi nhưng không nhận biết được mùi vị của các vật.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Bình thường, lưỡi có vị vô can. Nếu uống nước đường thì thấy ngọt, ngậm muối thì thấy mặn, ăn tiêu ớt thì thấy cay, nếm \u003Cb>Mật Nhân\u003C\u002Fb> thì thấy đắng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng uống một ly nước đá chanh đường. Nhưng sự cảm nhận mùi vị của người khỏe mạnh và người bị cảm cúm đều khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, vị nếm do nhiều Duyên hòa hợp mà hiện hữu. Lại thường xuyên thay đổi trạng thái và tùy theo Duyên được nhận biết khác nhau. Do đó, vị nếm chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>cảm xúc va chạm\u003C\u002Fb> (Spraṣṭavya-viṣaya):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một vật khi tiếp chạm với thân thể, tác động lên tế bào thần kinh của da (Thân Căn:Kāya-indriya) gây nên cảm xúc va chạm. Nếu tách rời các Duyên ấy ra thì cảm xúc va chạm không thể hiển hiện được. Ví dụ: người bị tê liệt thần kinh cảm giác và người chết đều không thể nhận biết được các cảm xúc khi va chạm với vật chung quanh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Đi mưa thì da mát lạnh, đi dưới nắng thì da nóng, trời oi bức thì quạt thấy mát, trời lạnh giá thì mặc áo len thấy ấm, va chạm gỗ thì thấy thô cứng, tiếp chạm với vải lụa thì thấy mềm mại.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người tay chân yên ổn, thân thể điều hòa, không có cảm xúc gì đặc biệt. Bỗng lấy hai tay xoa vào nhau thì cảm thấy rít, trơn, nóng, lạnh. Như thế những cảm xúc trên không phải từ hư không đến, cũng chẳng phải từ bàn tay mà ra, chỉ do hai bàn tay hòa hợp xoa nhau mà phát ra cảm xúc.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người nhúng hai bàn tay vào hai chậu nước, một nóng một lạnh. Rồi đồng thời nhấc cả hai bàn tay lên cùng nhúng vào một chậu nước ấm. Khi đó, người ấy cảm thấy một bàn tay thì nóng, một bàn tay thì lạnh. Do vậy cảm xúc của thân thể chỉ tùy theo Duyên mà biết chứ chưa chắc nhận biết rõ được thật tại.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng đi trong một cơn mưa. Nhưng cảm xúc của người khỏe mạnh và người đau yếu đều khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, cảm xúc va chạm do nhiều Duyên hòa hợp mà hiện hữu. Lại thường xuyên thay đổi trạng thái và tùy theo Duyên được nhận biết khác nhau. Do đó, cảm xúc chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>Pháp Cảnh \u003C\u002Fb>(Dharma-viṣaya):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Mọi ấn tượng được nhận biết khi nhắm mắt, lúc mê sảng, mộng mỵ hay lúc suy tư đều được phát sinh do sự loại suy từ những sự vật hay âm thanh….được cảm nhận từ năm Căn: \u003Ci>mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể\u003C\u002Fi>. Vì các ấn tượng được nhận biết bởi năm Căn ấy là: \u003Ci>hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, cảm xúc va chạm\u003C\u002Fi> đều là giả tạm không thật có, cho nên các hiển tướng là đối tượng của \u003Cb>Ý Căn\u003C\u002Fb> (Mana-indriya) cũng chỉ là giả tạm chứ không thật có\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng dự một ngày hội náo nhiệt. Nhưng cảnh tượng được nhận biết trong Tâm của người vui vẻ, người buồn chán, người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà, con nít… đều khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng nghe một bản nhạc. Nhưng ấn tượng lưu lại trong Tâm của người nhạc sĩ và người lao động chân tay thuần tùy đều khác nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người nghèo khổ, đói khát. Do thường xuyên mong mỏi có một cuộc sống tươi đẹp hơn, cho nên có khi nằm mơ thấy mình là kẻ cao sang quyền quý. Còn một người giàu có sang trọng, đôi khi nằm mơ thấy mình là kẻ nghèo cùng khốn khó.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người say mê cô gái đẹp. Do vọng tưởng nảy sinh mãnh liệt nên có đêm nằm mơ thấy cô gái đẹp ấy đi đến ve vãn mình và cùng nhau âu yếm…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như vậy mọi hình sắc ấn tượng được nhận biết bởi nội tâm chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>Vật Chất\u003C\u002Fb>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Theo truyền thống Ấn Độ thì 4 đại: \u003Cb>Địa\u003C\u002Fb> (Pṛthivi), \u003Cb>Thủy\u003C\u002Fb> (Ab), \u003Cb>Hỏa\u003C\u002Fb> (Tejo), \u003Cb>Phong\u003C\u002Fb> (Vāyu) là 4 đặc tính của vật chất hay là các nhân tố tạo thành vật chất. Trong đó \u003Cb>Địa Đại \u003C\u002Fb>(Pṛthivi-dhātu) là nguyên tố rắn chắc có tác dụng giữ gìn tức là tính bền của vật chất. \u003Cb>Thủy Đại\u003C\u002Fb> (Ab-dhātu) là nguyên tố ướt mềm có tác dụng nhóm họp tức là tính dính ướt của vật chất. \u003Cb>Hỏa Đại\u003C\u002Fb> (Tejo-dhātu) là nguyên tố phóng quang ấm áp có tác dụng thiêu cháy, nấu chín tức là tính ấm áp của vật chất. \u003Cb>Phong Đại\u003C\u002Fb> (Vāyu-dhātu) là nguyên tố bốc hơi rung chuyển có tác dụng lay động tức là tính động của vật chất. Như vậy bất kỳ một thứ nào nếu không có 4 tính năng lớn đó thì không phải là vật chất, nghĩa là mọi thứ vật chất đều phải dựa vào sự tương tác tương tùy của bốn đặc tính này mà tồn tại.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như tùy theo sự hòa hợp của Nhân Duyên có tính ổn định tương đối thì vật chất biểu hiện tính rắn chắc bền vững, nếu vượt quá mức ổn định đó thì vật chất sẽ biến động thay đổi nghĩa là Địa Đại và Phong Đại có tính đối nhau. Lại nữa, vật chất muốn hợp thành một hình thái nào thì phải dựa vào tính dính ướt nhóm họp mà ngưng tụ thành, khi chúng bị nung nóng làm chín thì hình thái cũ bị hòa tan hoặc phân hóa để tạo thành hình thái mới nghĩa là Thủy Đại và Hỏa Đại có tính đối nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Lại nữa tính rắn chắc của vật chất muốn được bền vững lâu thì cần phải dựa vào tính dính ướt ngưng tụ cao và muốn phân hóa làm biến động hình thái rắn chắc của vật chất thì phải dựa vào tính nung nóng làm chín. Do đó Địa Đại và Thủy Đại có tính hợp nhau còn Phong Đại và Hỏa Đại có tính hợp nhau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Chính vì sự tương tác tương tùy của 4 đặc tính này mà vật chất được nhận biết qua các quá trình: \u003Cb>ngưng tụ, ổn định, biến động, phân hóa\u003C\u002Fb> của nó nghĩa là ngưng hợp mà thành ổn định, phân hóa mà thành biến động. Đồng thời biến động rồi lại ngưng hợp, ổn định rồi lại phân hóa và mọi vật chất đều hiện hữu trong các quá trình như vậy.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kinh \u003Cb>Tạp A Hàm\u003C\u002Fb>, quyển 3 có ghi: “\u003Ci>Mọi loại Sắc đều do Tứ đại và Tứ đại tạo ra”.\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Tuy nhiên, khi vật chất thay đổi hình thái từ ổn định đến hủy hoại thì được gọi là \u003Cb>Không\u003C\u002Fb> (Ākāśa) và chính ngay khoảng hở giữa vật với vật cũng gọi là Không. Khoảng Không này có thể dùng mắt và thân thể để cảm thấy nên nó được coi như là Sắc Pháp. Có điều khoảng Không này mang đặc tính vô ngại, vô hạn, bao trùm và chứa đựng tất cả, nên nguyên tố rỗng không này được gọi là \u003Cb>Không Đại\u003C\u002Fb> (Ākāśa-dhātu) và được xem là yếu tố căn bản của vũ trụ. Nghĩa là 4 đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong muốn tồn tại để tương tác tương tùy hòa hợp cùng nhau thì phải dựa vào Hư Không. Vì thế Hư Không được xem là điều kiện tiên quyết cho mọi sự hiện hữu và mọi sự hiện thân của chúng Hữu Tình với chúng Vô Tình.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nếu tách rời tất cả nguyên tố này ra và phân chia đến lúc cùng cực thì ta chẳng thấy có thứ gì đáng gọi là \u003Cb>vật chất \u003C\u002Fb>cả.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như nước lỏng được tạo thành do sự hòa hợp giữa \u003Cb>Khinh Khí\u003C\u002Fb> (Hydrogen) và \u003Cb>Dưỡng Khí\u003C\u002Fb> (Oxygen). Khi tách rời hai phần tử này ra thì dạng nước bị tan biến.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Những ngọn núi cao nhất, hao mòn vì băng giá với những thác khe phân tán dần dần nhưng chắc chắn để làm vụn ra thành cát và đưa ra Đại Dương, chồng chất lớp lớp từ dưới đáy, dày đặc lại như đá, rồi nổi lên kết thành những dãy núi. Tiếp theo, những ngọn núi ấy lại hao mòn tan rã và sự tuần hoàn cứ tiếp diễn như vậy.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nước bốc hơi bay lên hư không, ngưng tụ thành mây. Mây bay qua nhiều vùng, tùy theo độ lạnh mà ngưng tụ thành băng, tuyết, mù, sương hoặc thành mưa tuôn xuống đất hòa nhập cùng ao, hồ, rạch, suối, mạch ngầm, sông, biển.. sau đó lại bốc hơi bay lên hư không và sự tuần hoàn cứ tiếp diễn như vậy.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Lấy cái kính hiển vi để dưới ánh nắng mặt trời, chiếu rọi lên đám bùi nhùi. Hoặc dùng đá lửa đánh vào nhau và để sát miếng giẻ tẩm chất dẫn hỏa…thì ta sẽ thấy ngọn lửa bốc cháy. Khi hết nhiên liệu thì ngọn lửa này tan biến mất. Tùy theo nhiên liệu dẫn hỏa, ta có lửa củi, lửa rơm, lửa khí đá, lửa điện, lửa Gaz và tùy theo nhiên liệu nhiều ít, ta có lửa to, lửa nhỏ…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Từ vùng có áp suất cao, không khí lưu chuyển xuống các vùng có áp suất thấp tạo thành các luồng gió mát nhẹ, gió nóng nhẹ, gió oi bức, gió rét, gió lộng, gió bão hay cuồng phong…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Phá núi làm đường hầm cho xe cộ lưu thông. Khi số lượng đất đá được lấy ra thì trong lòng núi hiện ra khoảng hư không làm thành đường hầm. Hoặc sau khi đám cháy rừng làm thiêu rụi cây cối, ta nhận thấy một khoảng hư không hiện ra…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế \u003Cb>vật chất\u003C\u002Fb> do nhiều Duyên kết hợp lại mà thành, lại thường xuyên thay đổi các thể trạng và tùy theo Duyên mà có tên gọi khác nhau. Do đó vật chất chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>thời gian\u003C\u002Fb>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Thời Gian là quan niệm được sinh ra của hai vật thể hành động, được nhận định từ hai biến cố:cái này đi trước, cái nọ theo sau và kết nối thành một ý niệm kế tục. Do vậy không thể nói được rằng thời gian có thực tại tự lập mà sự thực tại của thời gian hoàn toàn tùy thuộc vào trạng trái biến chuyển của tinh thần. Như trong một giấc mộng, người ta tưởng đã sống nhiều năm, ở những lúc khác thì nhiều ngày tháng như chỉ vửa phút giây, ở lúc khác thì một ngày dài như một thế kỷ và đôi lúc ý niệm về thời gian mất hẳn.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ví dụ: chúng ta tính dòng thời gian là lợi dụng trái đất tự nó xoay và xoay quanh mặt trời để định ra năm, tháng, ngày, giờ. Lại lợi dụng đồng hồ để tính giờ, phút, giây. Giả sử trên Thế Giới này, hết thảy mọi vật đều đứng yên, ngay cả hơi thở và mạch máu đều ngưng lại thì thử hỏi dựa vào đâu mà phân chia năm, tháng, ngày, giờ?!…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như vậy \u003Cb>thời gian \u003C\u002Fb>chỉ tạm nhận biết chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">&nbsp;.)Quán sát \u003Cb>cố tính và cương tính của vật chất\u003C\u002Fb>:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ngày nay, người ta đã chứng minh được rằng: \u003Cb>Cố Tính, Cương Tính\u003C\u002Fb> và mọi tính chất khác của vật chất chỉ là kết quả của sự chuyển động.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Độ gia tốc của chuyển động xoáy lốc truyền vào những chất nước đã cho nó một sức mạnh của Cố Thể.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một khối lượng không khí xoáy lốc chẳng hạn như gió cuốn sẽ giống như một chất rắn có thể đập vỡ hay tiện gẫy những vật rắn khác.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một sợi tơ nhện, nếu người ta cho nó chuyển động với tốc độ gần như vô tận thì cũng cứng rắn như một sợi cáp bằng thép để tiện gẫy một cây sồi ra làm hai.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Qua những sự quán sát trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng \u003Cb>hình thể vật chất \u003C\u002Fb>chỉ tùy theo Duyên hòa hợp mà tạm nhận biết, nên nó được coi là \u003Cb>vật được cảm nhận\u003C\u002Fb>, hay \u003Cb>Sắc Uẩn \u003C\u002Fb>không có thật thể.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nói cách khác, sở dĩ chúng ta thấy có vật là vì vật ấy do nhiều phần tử hòa hợp với nhau mà thành, đồng thời vật ấy lại tan biến khi các phần tử hòa hơp kia bị phân ly. Do đó cái \u003Cb>vật có \u003C\u002Fb>ấy chỉ là giả tạm chứ không thật có và cái có ấy gọi là \u003Cb>hòa hợp giả\u003C\u002Fb>. Ví như cái xe đạp do nhiều bộ phận như vành, căm, vỏ, ruột, sên, líp, sườn, tay lái, côn, cốt, bi đạn, dầu mỡ.. ráp lại rồi đặt tên là \u003Cb>xe đạp\u003C\u002Fb>. Nếu ta tháo gỡ từng bộ phận riêng biệt thì danh từ \u003Cb>xe đạp \u003C\u002Fb>không còn nữa. Cũng như thế \u003Cb>đống cát \u003C\u002Fb>là do vô số hạt cát tụ lại mà thành. Khi gió thổi bay tứ tung thì không còn tên gọi \u003Cb>đống cát \u003C\u002Fb>nữa. Vì thế \u003Cb>xe đạp\u003C\u002Fb>, hay \u003Cb>đống cát \u003C\u002Fb>được gọi là \u003Cb>giả danh \u003C\u002Fb>nghĩa là chỉ có tên gọi chứ không có thật thể.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Nói rõ hơn, do nghiệp báo hiện hành mà chúng ta thấy có vật hoặc không có vật. Ví dụ: trên trái đất, cùng một lúc thì người ở phía Tây đang ở ban đêm, còn người ở phía Đông đang ở ban ngày. Hoặc cùng một lúc, người bên này Đại Dương thấy nước triều lên và người bên kia Đại Dương thấy nước triều xuống. Hoặc cùng một lúc, loài dơi nghe thất Siêu Âm mà con người vẫn không hay biết. Hoặc cùng một dòng sông, con người gặp sự trở ngại trên đường đi nhưng loài thủy tộc thì thấy đó là nơi cư ngụ tốt lành.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, do không nhận biết được thật tướng của \u003Cb>Sắc Uẩn \u003C\u002Fb>mà phàm phu chịu nô lệ cho xác thân và không ngừng tạo nghiệp qua các cuộc đấu tranh để cho bản thân được ăn ngon, mặc đẹp; giữ gìn và chiếm giữ tài sản; chiều chuộng thân xác và tìm cách thỏa mãn dục vọng. Do đó, hình thể vật chất biến thành một sự trở ngại lớn lao, thường tạo nên sự lao tâm nhọc xác và trôi lăn trong vòng sinh tử khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Các vị Bồ Tát do quán chiếu được thật tướng của Sắc Uẩn là \u003Cb>duyên khởi như huyễn \u003C\u002Fb>và các Ngài xem \u003Cb>sắc uẩn như là bọt nước\u003C\u002Fb>, nên các Ngài làm chủ được xác thân, tùy nghi điều dụng các phương tiện vật chất chung quanh để làm lợi khí chỉ đạo xác thân thành cỗ xe huân tập và thực hiện đạo lý giải thoát. Vì thế đối với Ngài, \u003Cb>hình thể vật chất\u003C\u002Fb> không có tính biến ngại và ngược lại muôn hình muôn tượng lại là diệu dụng nhiệm màu dung thông vũ trụ, thúc đẩy các Ngài tinh tiến tu tập hoàn thiện \u003Cb>Pháp Thể như như.\u003C\u002Fb>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Việt Nam Thiền Uyển Tập Anh có ghi: “Khi vua \u003Cb>Lý Thái Tông \u003C\u002Fb>(1034-1038, niên hiệu \u003Cb>Thông Thụy\u003C\u002Fb>) đến viếng thăm Thiền Sư \u003Cb>Thiền Lão \u003C\u002Fb>(Đời thứ 6, dòng \u003Cb>Vô Ngôn Thông\u003C\u002Fb> \u003Cb>Việt Nam\u003C\u002Fb>)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_Vua hỏi: “Hàng ngày hòa thượng làm gì?”\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_ Sư đáp:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">“Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh\u003Cbr>\nBạch vân minh nguyệt lộ toàn thân”\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Dịch:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">“\u003Ci>Trúc biếc, hoa vàng đâu cảnh khác\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>&nbsp;Trăng trong, mây trắng lộ toàn chân\u003C\u002Fi>”\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">2_Quán sát \u003Cb>Cảm Giác \u003C\u002Fb>(Vedanā-skandha):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi sáu Căn tiếp xúc với sáu Trần thì các cảm giác (vui, khổ, không vui không khổ) hiện hữu và thường xuyên thay đổi trạng thái cho nhau. Nếu tách rời các Căn và Trần ra thì cảm giác không thể hiện hữu được. Ví dụ: người bị tê liệt hệ thần kinh cảm giác và người chết đều không có cảm giác.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Hai người cùng ăn món bánh cuốn rưới nước mắm cay. Người A không quen ăn ớt nên miệng lưỡi bị phỏng dộp, nước mắt tuôn chảy, liền phát sinh cảm giác khó chịu. Người B do quen dùng ớt nên phát sinh cảm giác hài lòng.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng nghe một bản nhạc kích động. Người sôi nổi có cảm giác vui vẻ, người trầm lặng có cảm giác khó chịu, người dững dưng có cảm giác vô can\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Bình thường, ta có cảm giác vô can. Lúc được nghe một lời khen tặng thì nảy sinh cảm giác khoan khoái dễ chịu. Nhưng nếu bị nghe lời chỉ trích cay độc thì phát sinh cảm giác bực tức.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, các cảm giác chỉ hiện hữu khi các Căn tiếp xúc với các Trần, lại thường xuyên thay đổi trạng thái cho nhau. Do đó cảm giác chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do không nhận biết được thật tướng của \u003Cb>Thọ Uẩn\u003C\u002Fb>, kẻ phàm phu chịu sự lệ thuộc vào các cảm giác khi các Căn đối đãi với các Trần. Như nghe tiếng chửi thì giận, nghe tiếng khen thì mừng. Hoặc gặp cảnh vừa ý thì vui, gặp cảnh trái ý thì bực bội…cho nên phàm phu thường buông tư tưởng, lời nói, hành động tùy theo cảm xúc \u003Cb>tham sân si \u003C\u002Fb>để nghiệp chướng chất chồng và các phiền não khổ đau nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Các vị Bồ Tát do quán chiếu được thật tướng của \u003Cb>Thọ Uẩn \u003C\u002Fb>chỉ là \u003Cb>duyên khởi như huyễn \u003C\u002Fb>và các Ngài xem \u003Cb>Thọ Uẩn như là mây nổi\u003C\u002Fb>, nên các Ngài điều ngự được các quan năng, chế ngự được các cảm giác, không lệ thuộc vào sự thọ lãnh cảm giác. Nghĩa là an nhiên bất động trong mọi hoàn cảnh mọi trường hợp, tất cả luyến ái và ngã chấp được tận diệt, cho nên phiền não khổ đau không thể nảy sinh.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kinh \u003Cb>Đức Phật và Ác Ma \u003C\u002Fb>có ghi: “\u003Ci>Sau khi bị \u003Cb>Đề Bà Đạt Đa \u003C\u002Fb>(Deva-datta) xô đá núi làm dập ngón chân cái của Đức Phật. Đức Thế Tôn trở về Tịnh Xá nằm dưỡng thương. Ngay lúc đó, Thiên Ma \u003Cb>Ba Tuần \u003C\u002Fb>(Pāpīyas, hay Māra-pāpman) đi đến hỏi Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Khi ngón chân cái của Ngài bị đá núi làm dập. Đức Thế Tôn nằm dưỡng thương, như thế có có cảm giác \u003Cb>đau \u003C\u002Fb>hay \u003Cb>không đau\u003C\u002Fb>?”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Đức Phật bình thản đáp: “Này Ma Vương Ba Tuần! Ngươi đừng đem ngôn từ gài bẫy Như Lai như thế. Ngươi nên biết rằng Như Lai là bậc đã chế ngự được cảm giác”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Sau khi nghe xong câu trả lời, Ma Vương Ba Tuần cam chịu thất bại, liền biến mất”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">3_Quán sát \u003Cb>Tri Giác \u003C\u002Fb>(Saṃjñā-skandha):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Tri Giác (Saṃjñā) là sự nhận biết đối tượng được phát sinh do sự tiếp xúc giữa sáu Căn với sáu Trần, chính Tri Giác là công năng nhận biết phân biệt sự vật là vật lý hay tâm linh. Nếu tách rời sự tiếp xúc giữa các Căn với các Trần thì Tri Giác không thể hiện hữu được. Ví dụ: người mù không có tri giác về mắt, người điếc không có tri giác về tai, người tịt mũi không có tri giác về mũi và người chết thì không có tri giác về sự vật\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Trong một khoảng thời gian ngắn, Tri Giác của ta hết trụ chỗ này lại trụ chỗ khác, lúc thì vời vọng dĩ vãng, lúc lại mơ ước tương lai. Mọi hình ảnh, màu sắc, âm thanh, danh tự chấp giữ thường xuyên thạy đổi không ngừng như con ngựa lồng chạy. Do đó Tri Giác ít khi có chỗ trụ nhất định nên khó nhận biết được thực tại.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người nhiếp Tâm niệm “\u003Cb>Nam mô A Di Đà Phật\u003C\u002Fb>”, đến một lúc nào đó thì nghe thấy âm thanh niệm Phật vang dội bên tai bao trùm mọi phía như thể đang ngồi niệm Phật trong một khóa tụng nhiều người. Âm thanh niệm Phật không từ hư không đến, cũng chẳng phải từ lỗ tai mà vào, tại sao lại nghe tiếng?…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Một người nghe nói trái chanh chua thì nước miếng đã chảy ra. Cái tiếng \u003Cb>chua \u003C\u002Fb>không từ trái chanh đi ra, cũng chẳng phải từ miệng mà vào. Tại sao lại chảy nước miếng?…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Người xưa do nhìn thấy mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây, nên lầm tưởng rằng mặt trời di chuyển chung quanh trái đất, chứ không thật biết là trái đất chỉ là một hành tinh chuyển động xoay quanh mặt trời.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Con người nhỏ bé trước vũ trụ nhưng lại to lớn đối với vi khuẩn\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Núi non bất động đối với trái đất nhưng lại chuyển động đối với mặt trời\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Ngàn năm thì dài đối với con người nhưng lại quá ngắn đối với đời sống của Thiên Thể.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng một người mà kẻ gọi là cha, người gọi là bác, kẻ gọi là chú, người gọi là anh, kẻ gọi là em…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế \u003Cb>sự nhận biết phân biệt \u003C\u002Fb>(tri giác) của ta về sự vật là do sự so sánh đối chiếu rồi đặt tên gọi như thế này, hay như thế khác, chứ không thật sự là như thế. Hay vạn Pháp được nhận biết phân biệt là do quan điểm chấp thủ của Tâm Thức \u003Cb>phân biệt giả \u003C\u002Fb>mà thành chứ không thật là có các cảnh danh ngôn ấy. Từ ý nghĩa này mà các bậc Đạo Sư thường khuyên nhủ chúng sinh khi nghiên cứu Đạo Lý giải thoát cần phải nắm vững năm y chứng cơ bản để minh định sự hiểu biết là “\u003Cb>Ai nói? Nói lúc nào? Nói ở đâu? Nói với ai? Nói cái gì?\u003C\u002Fb>” nghĩa là cần phải biết \u003Ci>nương lời mà đạt ý, nương theo Pháp mà ngộ Lý\u003C\u002Fi> chứ không phải dùng Pháp để cột trói mình cho bị mắc kẹt.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như trên đã quán sát, ta nhận thấy Tri Giác chỉ hiện hữu khi các Căn đối đãi với các Trần, lại thường xuyên thay đổi, đôi khi lại hư vọng xa rời thực tế, nên \u003Cb>Tưởng Uẩn \u003C\u002Fb>chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do không nhận biết được thật tướng của \u003Cb>Tưởng Uẩn\u003C\u002Fb>, kẻ phàm phu thường móng Tâm vọng tưởng, chấp chặt vào các ấn tượng được lưu giữ trong Tâm không chịu buông bỏ. Như khi nghe một lời chỉ trích cay độc, hoặc gặp gỡ một hình ảnh êm dịu thích thú thì nhớ mãi không quên, nên phải chịu sự bủa vây của phiền não khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Các vị Bồ Tát do quán chiếu được thật tướng của \u003Cb>Tưởng Uẩn \u003C\u002Fb>là \u003Cb>duyên khởi như huyễn, \u003C\u002Fb>giả lập thành \u003Cb>danh sắc tướng\u003C\u002Fb>, các Ngài xem \u003Cb>Tưởng Uẩn như ảo giác hiện cảnh trên sa mạc\u003C\u002Fb>… và không ôm giữ chấp chặt vào các việc thấy nghe cho nên Tâm của các Ngài luôn rỗng rang vô ngại, dứt bỏ được các thành kiến chấp trước, soi chiếu được thật tướng của vạn hữu và rốt ráo xa lìa được mọi phiền não khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Để minh họa về đặc tính \u003Cb>duyên khởi giả hợp của Danh Sắc\u003C\u002Fb>, Thiền Sư \u003Cb>Giác Hải \u003C\u002Fb>(Đời thứ 10_Dòng \u003Cb>Vô Ngôn Thông Việt Nam\u003C\u002Fb>) trước khi nhập diệt, có lưu lại bài Kệ là:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>“Xuân lai hoa điệp cộng ưng trì\u003Cbr>\nHoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ\u003Cbr>\nHoa điệp bản lai giai thị huyễn\u003Cbr>\nMạc tu hoa điệp hướng tâm trì”\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Dịch:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Ci>“Xuân về khéo biết bướm và hoa\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Hoa bướm cần nên hợp ứng hòa\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Hoa bướm xưa nay đều là huyễn\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Đừng đem Tâm giữ bướm và hoa”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>\u003Cspan style=\"text-align:justify;\">4_Quán sát \u003C\u002Fspan>\u003Cb style=\"text-align:justify;\">Lưu chuyển tạo ứng \u003C\u002Fb>\u003Cspan style=\"text-align:justify;\">(Saṃskāra-skandha):\u003C\u002Fspan>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Những tạo tác của Tâm Thức bao gồm tất cả những hoạt động của ý chí là phối hợp các tư tưởng hình thành quan điểm chấp thủ đã thúc đẩy chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử. Tùy theo hành vi của thân miệng ý ở đời quá khứ mà có Thân Tâm hiện tại, tùy theo hành vi hiện tại mà tạo nên Thân Tâm đời vị lai. Cứ như thế sinh diệt, diệt sinh theo quy luật \u003Cb>trùng trùng duyên khởi\u003C\u002Fb>: khi làm quỷ đói, lúc đọa Địa Ngục, khi làm súc sinh, lúc làm Quỷ Thần, khi làm người, lúc sinh Thiên…Ṭất cả những Thân như vậy tuy chẳng phải một mà cũng chẳng sai khác chỉ do các đời sống kế tiếp nhau \u003Cb>tương tục giả \u003C\u002Fb>mà thành. Ví như hạt giống nhờ trợ duyên mà sinh mầm, cái mầm đó nhờ trợ duyên mà sinh cây lá hoa trái và \u003Ci>hạt giống, cái mầm, cây lá, hoa trái \u003C\u002Fi>chẳng phải một mà cũng chẳng sai khác.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Thế nên vạn sự vạn vật đều trực tiếp hoặc gián tiếp \u003Cb>duyên khởi \u003C\u002Fb>lẫn nhau mà hiện hữu. Nếu tách rời sự hòa hợp của các Nhân Duyên ra thì vạn hữu không thể hiện hữu được. Ví dụ: Hạt giống bị luộc chín thì chẳng thể nảy sinh mầm, mầm bị diệt thì chẳng thể sinh cây trái. Hoặc hạt giống được gieo trồng ở vùng đất khô cằn thiếu sự hỗ trợ của ánh sáng, nước, phân bón thì không thể sinh cây trái được.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Cb>Hành Nghiệp \u003C\u002Fb>cũng thế. Nếu tham ái chấp thủ bị đoạn diệt thì điều kiện nuôi dưỡng \u003Cb>Hành Uẩn \u003C\u002Fb>không còn, Hành Uẩn tan rã thì dòng sinh tử chấm dứt. Rõ hơn, với thân xác hiện tại, nếu được tiếp trở bởi ba Duyên là \u003Cb>tham ái \u003C\u002Fb>(Tṛṣṇā), \u003Cb>chấp giữ \u003C\u002Fb>(Upādāna), \u003Cb>sự muốn có muốn được \u003C\u002Fb>(Bhāva) thì dòng Nghiệp Báo sẽ tiếp tục tạo nên một thân xác mới ở đời vị lai. Nếu lìa được ba Duyên \u003Cb>ái, thủ, hữu \u003C\u002Fb>thì dòng Nghiệp Báo sẽ bị cắt đứt, nghĩa là Hành Nghiệp ngừng tạo tác.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, Hành Uẩn chỉ tùy theo Duyên mà tạo tác chứ không thật có. Để minh định ý nghĩa này Đức Phật có dạy rằng: “\u003Ci>Niết Bàn là nơi dập tắt tham ái chấp thủ. Niết Bàn là nơi không còn bị Pháp Hành tạo tác”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kẻ phàm phu bởi không nhật biết được thật tướng của \u003Cb>Hành Uẩn \u003C\u002Fb>nên khi làm việc, các hoạt động của Tâm Ý luôn luôn bị \u003Cb>Vô Minh\u003C\u002Fb> (Avidyā) và \u003Cb>Ái Dục\u003C\u002Fb> (Tṛṣṇā) thúc đẩy. Do đó lầm tưởng rằng sự vật và vạn hữu đều là thật có, là vĩnh cữu cho nên thường khởi các tư tưởng vị kỷ bám giữ vào các Pháp các Vật (\u003Ci>sinh mệnh, tiền tài, danh vọng, sắc dục…\u003C\u002Fi>) không chịu xả bỏ để nghiệp báo chất chồng, thuận theo dòng sinh tử luân hồi mà vướng chịu nhiễu nỗi khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Các vị Bồ Tát, do quán chiếu được thật tướng của \u003Cb>Hành Uẩn \u003C\u002Fb>là \u003Cb>duyên khởi như huyễn\u003C\u002Fb>, chính nơi sinh chẳng có gì đáng gọi là sinh, chính nơi diệt chẳng có gì đáng gọi là diệt. Tất cả mọi sự mọi vật đều diễn tiến theo quy luật \u003Cb>trùng trùng Duyên khởi\u003C\u002Fb>, có đó mất đó, các Pháp không phải tự nhiên được hình thành hoặc sinh ra mà chính là Nhân Duyên \u003Cb>tương tục giả \u003C\u002Fb>hợp thành, nên các Ngài xem \u003Cb>Hành Uẩn như là cây chuối bị lột bẹ \u003C\u002Fb>và nhận định vạn sự vạn vật là \u003Cb>như huyễn\u003C\u002Fb>. Vì thế khi làm việc lợi sinh, các Ngài xa lìa tư tưởng vị kỷ, các Ngài không khởi Tâm Ý mong cầu chấp trước vào kết của của hành động, nghĩa là Tâm vắng lặng không&nbsp; khởi ra ý niệm: “\u003Ci>Ta đây đang hành Thiện Pháp\u003C\u002Fi>” mà chỉ chú ý vào việc tạo dựng an vui hạnh phúc cho chúng sinh. Từ đó phá tan màn Vô Minh, Ái Dục và chấm dứt dòng nghiệp báo. Do ý nghĩa này mà Tâm của Bồ Tát được gọi là \u003Cb>vô vi \u003C\u002Fb>hay \u003Cb>vô hành.\u003C\u002Fb>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kinh \u003Cb>Đức Phật và Ác Ma \u003C\u002Fb>có ghi: \u003Ci>“Đức Phật đi một mình vào rừng Parileyyaka để tạm lánh cảnh huyên náo do sự gây gỗ bất hòa của chúng Tăng vùng Kosaṃbi thì Thiên Ma Ba Tuần hiện ra hỏi Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Sau một thời gian chuyển Pháp Luân. Đức Thế Tôn đã hóa độ được hơn một ngàn vị Thánh Tăng đắc quả Niết Bàn, thoát ly khỏi dòng sinh tử. Như thế, Đức Thế Tôn có hài lòng về thành quả đó chăng? Ngược lại, hiện nay trong môn đệ, Đề Bà Đạt Đa đã mưu hại Đức Thế Tôn và chúng Tăng vùng Kosaṃbi đang nảy sinh mối gây gỗ bất hòa. Như thế, Đức Thế Tôn có ghét bỏ Đề Bà Đạt Đa và chán nản phiền muộn về chúng Tăng ấy chăng? Nếu không, tại sao Đức Thế Tôn lại rời xa Tăng Đoàn đi vào rừng Parileyyaka, an cư một mình?!…”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Đức Phật điềm đạp trả lời: “Này Ma Vương Ba Tuần! Ngươi đừng đem điều lợi hại, điều vui mừng thích thú hay điều chán nản ghét bỏ đối với các kết quả của việc làm để vấn nạn Như Lai như thế bởi Như Lai là bậc biết rõ việc làm của chính mình”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Ci>Một lần nữa, Ma Vương Ba Tuần cam chịu thất bại và biến mất”.\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>5_Quán sát \u003Cb>sự nhận thức \u003C\u002Fb>(Vijñāna-skandha):\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Cb>Thức \u003C\u002Fb>(Vijñāna) là sự rõ biết đối tượng gồm sáu loại liên quan đến sáu Căn và sáu Cảnh, tùy thuộc vào bốn Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành) và Thức không thể tồn tại biệt lập với chúng. Hay Thức là quá trình của Tâm xuyên thấu, tóm thâu tiến trình của bốn Uẩn kia từ sinh tới diệt. Trong hiện tại, \u003Cb>năm\u003C\u002Fb> \u003Cb>Thức Thân \u003C\u002Fb>(Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức) là thành quả do sự tạo tác tập nhiễm của đời quá khứ nên chỉ thuần nhận biết đối tượng mà thôi, cón \u003Cb>Ý Thức \u003C\u002Fb>thì dựa vào sự nhận biết của năm Thức Thân để pháp đoán thiện ác, tốt xấu… phân biệt ta người, đây đó, thân sơ, chủ khách… và nảy sinh yêu ghét. Do bốn Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành) chỉ là giả tạm không thật có, nên Thức Uẩn cũng là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Khi mắt ta nhìn thấy một vật gì (nhãn thức) thì phải cách vật ấy gần hay xa (không gian), khi thấy cần phải có ánh sáng (minh), sự thấy phải từ con mắt và hệ thần kinh mà có (căn), trước lúc thấy ta đã có chủ ý muốn nhìn ngó (tác ý), sự tác ý lại do Ý Thức khởi động trước (phân biệt y). Do vậy nếu tách rời sáu Duyên trên ra thì \u003Cb>Nhãn Thức \u003C\u002Fb>(Cakṣur-vijñāna). Ví dụ: người mù lòa (thiếu Nhãn Căn) thì không thể nhìn thấy sự vật, hoặc một người đang mải mê suy nghĩ vấn đề gì (thiếu Tác Ý) thì dễ đụng phải vật cản đường, nghĩa là không nhìn thấy sự vật. Hay người mở mắt khi ngủ (tiếu Tác Ý và Phân Biệt Y) cũng không nhìn thấy sự vật.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Các Thức còn lại như \u003Cb>Nhĩ Thức \u003C\u002Fb>(Śrotra-vijñāna) chỉ có năm Duyên (vì không cần ánh sáng), \u003Cb>Tỵ Thức \u003C\u002Fb>(Ghrāṇa-vijñāna), \u003Cb>Thiệt Thức \u003C\u002Fb>(Jihvā-vijñāna), \u003Cb>Thân Thức \u003C\u002Fb>(Kāya-vijñāna) chỉ có bốn Duyên (vì không cần không gian và ánh sáng), \u003Cb>Ý Thức \u003C\u002Fb>(Mano-vijñāna) chỉ có ba Duyên (Căn, Cảnh, Tác Ý). Do vậy, nếu tách rời các Duyên trên ra thì các Thức không hiện hữu. Ví dụ: người chết không có nhận thức.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Bởi \u003Cb>Tri Giác\u003C\u002Fb> (Saṃjñā) phân biệt sự vật là vật lý hay tâm linh mà muôn ngàn Học Thuyết và muôn ngàn phương pháp minh họa Chân Lý được sáng tạo. Trong các sự việc này, có điều minh họa chính đúng với chân lý, có điều gần sát với chân lý và có điều sai lệch với chân lý. Nhưng vì sự chấp trước bởi quan điểm của cá nhân đã được huân tập theo nhiều đời mà con người đã yêu thích đường lối của Học Thuyết này và ghét bỏ chê bai Học Thuyết kia. Từ sự yêu ghét này, con người đã tranh chấp hơn thua và tạo tác nhiều cảnh khổ đau. Cụ thể là: các cuộc Thánh Chiến giữa người Hồi Giáo với người Thiên Chúa Giáo, hoặc sự đấu tranh giữa người Hồi Giáo với người Ấn Độ Giáo, hay sự tranh chấp giữa người Thiên Chúa Giáo với người Tin Lành Giáo, hoặc sự chỉ trích phê phán lẫn nhau giữa Phật Giáo Bắc Tông và Phật Giáo Nam Tông….\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do sự phân biệt giai cấp mà con người đã tranh đấu, hãm hại, ức hiếp, khinh miệt lẫn nhau\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do sự phân biệt họ hàng Nội Ngoại, mà một số người đã yêu mến quý trọng người thuộc Họ này hơn người thuộc Họ kia\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Do sự phân biệt giá trị của vàng, bạc, kim cương mà con người đã yêu quý và tranh đấu để giành giật, chiếm hữu, giữ gìn… trong khi đó đối với người bán khai hay các bậc Chân Tu thì của cải ấy chẳng có giá trị gì\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">\u003Cb>Nhân Sâm\u003C\u002Fb> là vị thuốc tốt đối với người bị suy nhược thiếu máu, nhưng lại là vị thuốc độc đối với người đang bị đau bụng (Phúc thống phục nhân sâm tắc tử: \u003Ci>người bị đau bụng mà uống Nhân Sâm vào thì bị chết\u003C\u002Fi>)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Giết một nhóm cướp để cứu một đoàn người bị nạn. Đối với kẻ cướp thì ta là người xấu, còn đối với đoàn người bị nạn thì ta là người tốt.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Cùng một vị danh tướng nhưng lại có kẻ yêu, người ghét. Ví dụ: \u003Cb>Mã Viện \u003C\u002Fb>là một danh tướng của đất nước Trung Hoa đã đánh thắng cuộc khởi nghĩa của chị em \u003Cb>Trưng Nữ Vương \u003C\u002Fb>và thiết lập chính sách đô hộ lên nước \u003Cb>Lạc Việt\u003C\u002Fb>. Như vậy, đối với nhà Đông Hán thì Mã Viện là một anh hùng dân tộc đáng được kính trọng, còn đối với người dân Lạc Việt thì Mã Viện là một kẻ xâm lược tàn bạo đáng bị nguyền rủa.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như thế, sự phán đoán \u003Ci>thiện ác, tốt xấu… \u003C\u002Fi>phân biệt \u003Ci>ta người, đây đó, thân sơ, chủ khách \u003C\u002Fi>và nảy sinh sự \u003Ci>yêu ghét \u003C\u002Fi>chỉ hiện hữu tùy theo cảm tưởng và quan niệm chủ quan, hoặc tùy theo vị trí đứng của môi trường sinh sống chứ không có tính đồng nhất. Vì bình thường, cái gì hợp với chúng ta thì chúng ta cho là tốt là thiện và chúng ta yêu mến gìn giữ. Còn cái gì không hợp với chúng ta&nbsp; thì chúng ta cho là xấu là ác và chúng ta oán ghét chán bỏ. Do vậy \u003Cb>Thức Uẩn \u003C\u002Fb>chỉ là giả tạm chứ không thật có.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kẻ phàm phu do không nhận biết được thật tướng của \u003Cb>Thức Uẩn \u003C\u002Fb>cho nên chấp trước vào quan điểm \u003Cb>có ta, có người, có chúng sinh, có thọ mệnh \u003C\u002Fb>đã nảy sinh sự thân sơ, yêu ghét và bị trói buộc bởi các Ý Thức đó mà phải chịu vướng mắc trong vòng phiền não khổ đau\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Các vị Bồ Tát do quán chiếu được thật tướng của \u003Cb>Thức Uẩn \u003C\u002Fb>chỉ là diệu dụng nhiệm màu của Bản Thể thanh tịnh và các Ngài xem \u003Cb>Thức Uẩn như vật biến hóa do nhà Thuật Sĩ thực hiện\u003C\u002Fb>, cho nên các Ngài đã chuyển \u003Cb>Thức \u003C\u002Fb>(Vijñāna) thành \u003Cb>Trí \u003C\u002Fb>(Jñāna), thấy tất cả chúng sinh cùng với chính mình đồng một Bản Thể và cốt tủy của chúng sinh chính là \u003Cb>Phật Tính \u003C\u002Fb>(Buddhatā) bất hoại cho dù có bị che mờ dưới lớp bụi của tham sân phiền não. Hoặc các Ngài nhìn chúng sinh qua đặc tính \u003Cb>vô thường và khổ não \u003C\u002Fb>nên trải lòng thương xót lên tất cả mà không hề phân biệt yêu ghét, thân sơ (điều này còn gọi là \u003Cb>đồng Thể Đại Bi\u003C\u002Fb>). Do vậy, các Ngài đã xa lìa được sự trói buộc của phiền não khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như Ngài \u003Cb>Kỉnh Sơn \u003C\u002Fb>nói rằng: “\u003Ci>Hàng ngày đối với các Duyên: hoặc sạch hoặc dơ, hoặc mừng hoặc giận, hoặc vui hoặc buồn, hoặc khổ hoặc sướng, hoặc thuận hoặc nghịch…phải như hạt châu trên mâm, chẳng động tự nhiên lăn. Đến thời tiết như thế dù muốn đem trình bày cho người khác hiểu cũng không thể được, như người uống nước \u003Cb>nóng lạnh tự biết\u003C\u002Fb>”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Lại nói là:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>“Tâm tùy vạn cảnh chuyển\u003Cbr>\nChuyển xứ thật năng u\u003Cbr>\nTùy lưu nhận đắc tính\u003Cbr>\nVô hỷ diệc vô ưu”\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>Dịch là:\u003C\u002Fp>\n\u003Cp>“\u003Ci>Tâm tùy muôn cảnh chuyển\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Nơi chuyển rất thâm sâu\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Tùy dòng nhận được Tính\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>\u003Ci>Không mừng cũng không lo”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Qua sự quán sát trên, ta nhận thấy rằng \u003Cb>năm Uẩn \u003C\u002Fb>hay vạn Pháp \u003Cb>dường như có\u003C\u002Fb> khi nhân duyên hòa hợp, \u003Cb>dường như không\u003C\u002Fb> khi nhân duyên phân tán, nên rốt ráo năm Uẩn chỉ là giả tạm chứ không có thật thể, ví như ảnh trong gương, trăng soi bóng nước mà thôi…\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Chúng sinh do Vô Minh vọng động đã tự phát khởi vọng tưởng, chấp trước vào \u003Ci>sự nhìn, sự thấy, sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự làm được…\u003C\u002Fi> hình thành bởi các \u003Ci>quan điểm chủ quan, thành kiến, tập quán, cảm giác, ham muốn…\u003C\u002Fi> qua sự chấp thủ \u003Cb>năm Uẩn hay Bản Ngã là có thật\u003C\u002Fb> mà phải chịu nhiều nỗi khổ đau phiền não vây quanh. Từ lý do này mà Đức Phật đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: “\u003Ci>Phải phá Chấp để Giác Ngộ”\u003C\u002Fi>. Cái chấp về thủ đắc, cái chấp của ngôn ngữ ý thức, cái chấp của những xây dựng hình thức, cái chấp của Giác Thức và nhận thức, cái chấp của tình cảm luyến ái hận thù…ṇghĩa là đối với mọi sự mọi việc cần phải được suy xét, phối kiểm và chứng nghiệm đúng với Chân Lý thì mới có thể phá tan màn Vô Minh mà thành Đạo Quả.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Kinh \u003Cb>Dhamma Dôsa\u003C\u002Fb> có ghi: “\u003Ci>Hãy đến đây, người Kâlâma ! Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì ta nghe thấy có người ấy nói điều ấy một lần rồi. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được truyền lại từ xưa. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được đồn từ phương xa đến. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được viết ra từ Kinh Sách. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì chính ta đã ước đoán và nêu ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì chính ta đã suy diễn và nói ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với những thành kiến của ta. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì tính cách có thể chấp nhận được của điều ấy. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì sự kính trọng của ta đối với người nói ra điều ấy…. Mà hỡi người Kâlâma! Chỉ khi nào tự các ngươi, các ngươi hiểu rõ ràng điều ấy đúng với Đạo Lý, không có gì để chê trách, lại được các Bậc thiện Tri Thức Thiện Tâm tán đồng và có khả năng mang lại an vui hạnh phúc chân thật, thì các ngươi phải thực hành đúng như điều ấy”\u003Cbr>\n\u003C\u002Fi>(Bản dịch của ông \u003Cb>Đoàn Trung Còn\u003C\u002Fb>)\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Tuy nhiên sự chấp trước đã được tạo dựng và củng cố từ muôn ngàn kiếp, mỗi ngày một ít và lâu dần trở thành kiên cố vững chắc. Vì thể để đoạn trừ được sự chấp trước, chúng ta cần phải Tâm Nguyện \u003Cb>đạt đến sự sáng suốt siêu việt\u003C\u002Fb>, trực nhận được Chân Lý qua sự \u003Cb>hướng Tâm, luyện Tâm, quy Tâm \u003C\u002Fb>nghĩa là phải cố gắng suy tư tìm hiểu để minh xác hướng đi chân chính, đồng thời phải cố gắng rèn luyện cải sửa Thân Tâm của mình nhằm huân tập thấm nhuần mầm giống Giải Thoát và phải cố gắng khám phá được sự thật của chính mình qua phương cách căn bàn là: “\u003Ci>phải luôn luôn thành thật với chính mình, cố gắng không nương tựa vào ai, không e ngại sợ hãi một điều gì, không mong cầu thủ đắc một điều gì ngoại trừ mục tiêu \u003Cb>hiểu biết chính đúng không có sai lầm\u003C\u002Fb>”. \u003C\u002Fi>Tức là trong phương pháp tu hành, cần nhất là “\u003Cb>phải tự biết lỗi của mình\u003C\u002Fb>” nếu lỡ sinh điều vọng tưởng thì phải hối ngộ tự Tâm, phải lấy gương Trí Tuệ mà phá liền cái nghiệp ác đã tạo ra, đừng cho nó thành kết quả. Đối với mọi sự mọi vật ở Thế Gian, đừng vướng vào sự lấy bỏ, yêu ghét cứ một mực điềm tĩnh tự nên. Nếu quán chiếu thì phải mở lớn cho đến chỗ không còn tướng, nếu thâu nhỏ thì phải đến chỗ không còn hình và cuối cùng phải quán chiếu quy tất cả về chính con người của mình, cho đến lúc nhận thấy Thân Tâm này chỉ là một khối Tổ Hợp do nhiều thành phần cực nhỏ hợp thành…cho đến cái không biết nói gì nữa, rồi đến cái không là gì…Có như thế mới xây dựng được khả năng dứt lìa sự chấp dính vào \u003Cb>cái của ta \u003C\u002Fb>(tư riêng, tư ý, tư kỷ) và thực hiện được trọn vẹn \u003Cb>thật tướng của năm Uẩn là không có thật thể\u003C\u002Fb>. Từ đó đoạn trừ được sự luyến ái và ngã chấp về đời sống để vượt thoát sự vây bủa của phiền não khổ đau.\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Điều cần nhớ là trong khi tu hành, đừng để Tâm Trí bị trói buộc theo thời gian tu tập, đừng trông chờ kết quả ở tương lai mà chỉ tập trung rèn luyện cải sửa Thân Tâm, minh xác Chân Lý, luôn luôn tránh \u003Cb>sự tự cao và sự tự ti mặc cảm\u003C\u002Fb> để mau chóng đạt được \u003Cb>Tâm bình đẳng\u003C\u002Fb>, khách quan vô tư. Ngoài ra chúng ta cần phải cố gắng tạo dựng cuộc sống \u003Ci>hiền thiện, ngay thẳng, mực thước, chân chính, vị tha …\u003C\u002Fi> kiên trì \u003Cb>thu thúc\u003C\u002Fb> \u003Cb>sáu Căn\u003C\u002Fb> để tiêu diệt \u003Cb>tham, sân, si, mạn, nghi\u003C\u002Fb> cho đến lúc dập tắt và vượt qua được thế lực trói buộc của năm Uẩn, thực chứng được Trí Tuệ giải thoát\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">_Tóm lại, sự tự tại vô ngại có thể thành đạt được ngay trong đường lối quán chiếu thật tại hiện tiền, ngay tại chỗ trên thân xác đang mang này. Nghĩa là phải biết \u003Cb>như lý tác ý\u003C\u002Fb> để diệt trừ luyến ái và Ngã Chấp về đời sống, cho đến lúc nhận biết vạn Pháp như thật như thị\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Như một vị Thần Linh hỏi Đức Phật rằng: “\u003Ci>Những người trú ngụ trong rừng sâu, những bậc Thánh sống đời Đạo Hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Tại sao vị ấy có vẻ tự tại ?”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp style=\"text-align:justify;\">Đức Phật bảo rằng: “\u003Ci>Những vị ấy không than van buồn chán về những chuyện đã qua, không mảy may khao khát những điều chưa tới mà chỉ tập trung Tâm Trí vào hiện tại . Do đó các vị ấy được tự tại”\u003C\u002Fi>\u003C\u002Fp>\n\u003Cp align=\"right\">01\u002F05\u002F2013\u003Cbr>\n\u003Cstrong>Huyền Thanh\u003C\u002Fstrong> biên soạn\u003C\u002Fp>",1782647073054]