[{"data":1,"prerenderedAt":30},["ShallowReactive",2],{"post-a-di-da-nhu-lai":3},{"slug":4,"title":5,"date":6,"ts":7,"year":8,"author":9,"excerpt":10,"cats":11,"tags":18,"pdf":19,"img":20,"tradition":21,"published":22,"modified":23,"pdfs":24,"bodyHtml":29},"a-di-da-nhu-lai","A DI ĐÀ NHƯ LAI","14\u002F06\u002F2013",1371251479000,"2013","MT","A DI ĐÀ NHƯ LAI (.PDF) Biên soạn: Huyền Thanh Biên soạn: HUYỀN THANH Hồng Danh A Di Đà được ghi nhận qua tên Phạn là Amṛta có nghĩa đen là bất tử, nghĩa bóng là Cam Lộ và Hồng Danh này đã được ghi …",[12,15],{"name":13,"slug":14},"A Di Đà (Amitābha)","a-di-da-amitabha",{"name":16,"slug":17},"Như Lai Phật Bộ (Tathāgata)","nhu-lai-phat-bo-tathagata",[],1,"\u002Fmedia\u002F2013\u002F06\u002Fa-di-da-nhu-lai.png","mat-giao","2013-06-14T23:11:19+00:00","2014-03-15T06:30:55+00:00",[25],{"url":26,"name":27,"label":28},"\u002Fmedia\u002F2013\u002Fa-di-da-amitabha\u002Fa-di-da-phat.pdf","a-di-da-phat.pdf","A DI ĐÀ NHƯ LAI (.PDF)","\u003Ch3 style=\"text-align:center;\">\u003Ca title=\"A Di Đà Phật\" href=\"\u002Fmedia\u002F2013\u002Fa-di-da-amitabha\u002Fa-di-da-phat.pdf\">\u003Cstrong>A DI ĐÀ NHƯ LAI (.PDF)\u003C\u002Fstrong>\u003C\u002Fa>\u003C\u002Fh3>\n\u003Ch5 style=\"text-align:center;\">Biên soạn: Huyền Thanh\u003C\u002Fh5>\n\u003Cdiv data-shortcode=\"caption\" id=\"attachment_1385\" style=\"max-width: 135px\" class=\"wp-caption aligncenter\">\u003Ca href=\"https:\u002F\u002Fdocs.google.com\u002Ffile\u002Fd\u002F0B1hLXVZWY9lOdkVtX2pFQ2tfcWM\u002Fedit?usp=sharing\">\u003Cimg data-attachment-id=\"1385\" data-orig-size=\"260,372\" data-comments-opened=\"0\" data-image-meta=\"{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;0&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;}\" data-image-title=\"A Di Da Nhu Lai\" data-image-description=\"\" class=\" wp-image-1385\" title=\"A Di Đà Phật\" alt=\"A Di Đà Phật\" src=\"\u002Fmedia\u002F2013\u002Fa-di-da-amitabha\u002Fa-di-da-nhu-lai81d6.png\" width=\"125\" height=\"180\" loading=\"lazy\">\u003C\u002Fa>\u003Cp class=\"wp-caption-text\">A Di Đà Phật\u003C\u002Fp>\u003C\u002Fdiv>\n\u003Cp>Biên soạn: HUYỀN THANH\u003Cbr>\nHồng Danh A Di Đà được ghi nhận qua tên Phạn là Amṛta có nghĩa đen là bất\u003Cbr>\ntử, nghĩa bóng là Cam Lộ và Hồng Danh này đã được ghi nhận rất nhiều trong các Đà\u003Cbr>\nLa Ni của Mật Giáo. Lại do hiển bày đặc tính Trường Thọ bằng cách dùng nước\u003Cbr>\nCam Lộ (Amṛta), khi uống vào thì chẳng già chẳng chết, nên được tôn là Cam Lộ\u003Cbr>\nVương (Amṛta-rāja), hoặc Cam Lộ Vương Như Lai (Amṛta-rāja-Tathāgata), Cam Lộ\u003Cbr>\nĐại Minh Vương (Amṛta-mahā-vidya-rāja) hay Kim Cương Cam Lộ Thân (Vajraamṛta-\u003Cbr>\nkāya). Do các danh hiệu này mà Đức Phật A Di Đà được ghi nhận là một trong\u003Cbr>\ncác Bản Tôn Diên Mệnh Trường Thọ.\u003Cbr>\nSau này Hồng Danh A Di Đà được ghi nhận qua tên phạn là Amita nghĩa là: Vô\u003Cbr>\nLượng và được xưng là Vô Lượng Phật (Amita-buddha: biểu thị cho nhân cách Giác\u003Cbr>\nNgộ của Trí Tuệ và Từ Bi không có cùng tận). Từ ý nghĩa Vô Lượng này cho nên A\u003Cbr>\nDi Đà Phật được dịch ý là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật (Amita-śuddha-buddha: biểu\u003Cbr>\nthị cho sự Thanh Tịnh không có cùng tận dứt hẳn mọi bơn nhơ phiền não), Vô Lượng\u003Cbr>\nQuang Phật (Amitābha-buddha: biểu thị cho Trí Tuệ giải thoát), Vô Lượng Thọ Phật\u003Cbr>\n(Amitāyus-buddha: biểu thị cho Đại Định giải thoát).\u003Cbr>\nKinh Vô Lượng Thọ ghi nhận 12 Hồng Danh của Đức Phật A Di Đà là:\u003Cbr>\n1_ Vô Lượng Quang\u003Cbr>\n2_ Vô Biên Quang\u003Cbr>\n3_ Vô Ngại Quang\u003Cbr>\n4_ Vô Đối Quang\u003Cbr>\n5_ Diệm Vương Quang\u003Cbr>\n6_ Thanh Tịnh Quang\u003Cbr>\n7_ Hoan Hỷ Quang\u003Cbr>\n8_ Trí tuệ Quang\u003Cbr>\n9_ Bất Đoạn Quang\u003Cbr>\n10_ Nan Tư Quang\u003Cbr>\n11_ Vô Xứng Quang\u003Cbr>\n12_ Siêu Nhật Nguyệt Quang\u003Cbr>\nKinh Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm ghi nhận 13 Hồng Danh là:\u003Cbr>\n1_ Vô Lượng Quang\u003Cbr>\n2_ Vô Ngại Quang\u003Cbr>\n3_ Thường Chiếu Quang\u003Cbr>\n4_ Bất Không Quang\u003Cbr>\n5_ Lợi Ích Quang\u003Cbr>\n6_ Ái Lạc Quang\u003Cbr>\n7_ An Ổn Quang\u003Cbr>\n8_ Giải Thoát Quang\u003Cbr>\n9_ Vô Đẳng Quang\u003Cbr>\n10_ Bất Tư Nghị Quang\u003Cbr>\n11_ Quá Nhật Nguyệt Quang\u003Cbr>\n12_ Đoạt Nhất Thiết Thế Gian Quang\u003Cbr>\n13_ Vô Cấu Thanh Tịnh Quang\u003Cbr>\nKinh Đại Bảo Tích 17_18 ghi nhận 15 Hồng Danh là:\u003Cbr>\n1_ Vô Lượng Quang\u003Cbr>\n2_ Vô Biên Quang\u003Cbr>\n3_ Vô Trước Quang\u003Cbr>\n4_ Vô Ngại Quang\u003Cbr>\n5_ Chiếu Vương Quang\u003Cbr>\n6_ Đoan Nghiêm Quang\u003Cbr>\n7_ Ái Quang\u003Cbr>\n8_ Hỷ Quang\u003Cbr>\n9_ Khả Kiến Quang\u003Cbr>\n10_ Bất Tư Nghị Quang\u003Cbr>\n11_ Vô Đẳng Quang\u003Cbr>\n12_ Bất Khả Xứng Lượng Quang\u003Cbr>\n13_ Ánh Tệ Nhật Quang\u003Cbr>\n14_ Ánh Tệ Nguyệt Quang\u003Cbr>\n15_ Yểm Đoạt Nhật Nguyệt Quang\u003Cbr>\nKinh Sukhāvatī-vyūha ghi nhận 19 Hồng Danh là:\u003Cbr>\n1_ Vô Lượng Quang (Amitābha)\u003Cbr>\n2_ Vô Lượng Quang Minh (Amita-prabha)\u003Cbr>\n3_ Vô Lượng Minh (Amita-prabhāsa)\u003Cbr>\n4_ Vô Đối Chiếu Quang (Asamāpta-prabha)\u003Cbr>\n5_ Vô Trước Quang (Asanghata-prabha)\u003Cbr>\n6_ Diệm Vương Quang (Prabhāśikhotsṛṣṭa-prabha)\u003Cbr>\n7_ Thiên Châu Quang (Sadivya-maṇi-prabha)\u003Cbr>\n8_ Vô Ngại Quang Minh Nhiễm Quang (Apratihata-raśmi-rāga-prabha)\u003Cbr>\n9_ Mỹ Quang (Rājanīya-prabha)\u003Cbr>\n10_ Ái Quang (Premanīya-prabha)\u003Cbr>\n11_ Hỷ Quang (Pramodanīya-prabha)\u003Cbr>\n12_ Từ Quang (Samgamanīya-prabha)\u003Cbr>\n13_ An Ổn Quang (Upoṣanīya-prabha)\u003Cbr>\n14_ Bất Đoạn Quang (Nibandhanīya-prabha)\u003Cbr>\n15_ Cực Tinh Tiến Quang (Ativīrya-prabha)\u003Cbr>\n16_ Vô Đẳng Quang (Atulya-prabha)\u003Cbr>\n17_ Siêu Nhân Vương Chính Kiến Vương Quang (Abhibhūya-narendramaunayendra-\u003Cbr>\nprabha)\u003Cbr>\n18_ Khúc Áp Tĩnh Mãn Nguyệt Nhật Quang (Śraṃtasamcayendu-sūryajihmīkaraṇa-\u003Cbr>\nprabha)\u003Cbr>\n19_ Khúc Áp Siêu Hộ Thế-Nhân Đà La-Phạm Thiên-Tịnh Cư-Đại Tự Tại-Nhất\u003Cbr>\nThiết Quang (Abhibhūya-lokapāla-śakra-brahma-śuddhāvāsa-maheśvara-sarvadevajihmīkaraṇa-\u003Cbr>\nprabha)\u003Cbr>\nTạng Bản ghi nhận 19 Hồng Danh là:\u003Cbr>\n1_ Vô Lượng Quang\u003Cbr>\n2_ Vô Lượng Chiếu\u003Cbr>\n3_ Vô Đối Quang\u003Cbr>\n4_ Vô Trước Quang\u003Cbr>\n5_ Vô Ngại Quang\u003Cbr>\n6_ Thường Phóng Quang\u003Cbr>\n7_ Thiên Châu Quang\u003Cbr>\n8_ Vô Ngại Quang Minh Vương Quang\u003Cbr>\n9_ Thành Ái Quang\u003Cbr>\n10_ Hoan Hỷ Quang\u003Cbr>\n11_ Tối Thắng Hoan Hỷ Quang\u003Cbr>\n12_ Thỏa Mãn Quang\u003Cbr>\n13_ Khả Kiến Quang\u003Cbr>\n14_ Hòa Hiệp Quang\u003Cbr>\n15_ Bất Khả Tư Nghị Quang\u003Cbr>\n16_ Vô Đẳng Quang\u003Cbr>\n17_ Khúc Áp Nhân Vương Thiên Vương Quang\u003Cbr>\n18_ Khúc Áp Nhật Nguyệt Lịnh Ám Muội Quang\u003Cbr>\n19_ Khúc Áp Hộ Thế-Nhân Đà La-Phạm Thiên-Tịnh Cư-Đại Tự Tại-Nhất Thiết\u003Cbr>\nThiên-Lịnh Ám Muội Quang.\u003Cbr>\nNgoài ra Đức A Di Đà Phật còn có tên gọi là Kỳ Thọ Mệnh Vô Lượng, Quang\u003Cbr>\nMinh Vô Lượng, Năng Hộ Hữu Chúng Sinh Viên Mãn Vô Lượng Thọ Mệnh, Vô\u003Cbr>\nLượng Quang Minh.\u003Cbr>\nPhật Giáo Tây Tạng thường xưng tán Ngài qua Hồng Danh A Di Đà Thiên\u003Cbr>\n(Amita-deva:Vô Lượng Thiên) và trì niệm Tâm Chú là “OṂ AMITA-DEVA HRĪḤ”\u003Cbr>\nA Di Đà Phật là Giáo Chủ của Thế Giới Cực Lạc (Sukhā-vatī) ở phương Tây,\u003Cbr>\ndùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí làm hai vị Đại Bồ Tát hầu cận. Trong đó Bồ Tát\u003Cbr>\nQuán Thế Âm (Avalokiteśvara) biểu thị cho Từ Bi, còn Bồ Tát Đại Thế Chí (Mahāsthāmaprāpta)\u003Cbr>\nbiểu thị cho Trí Tuệ.\u003Cbr>\nTrong Kinh nói: Thọ mệnh của Đức Phật ấy với nhân dân kéo dài vô lượng vô\u003Cbr>\nbiên a tăng kỳ kiếp cho nên có tên là Di Đà.\u003Cbr>\nTrong quốc thổ Cực Lạc, thọ mệnh của chúng sinh là vô lượng, Đức Phật Di Đà\u003Cbr>\ncũng có thọ mệnh vô lượng, bởi vì thế giới Cực Lạc là tâm Đại Bi của Phật A Di Đà là\u003Cbr>\nnơi thành tựu của sức Đại Nguyện, là Pháp Giới chẳng thể luận bàn.\u003Cbr>\nThế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là ánh sáng của vô lượng, thọ mạng của\u003Cbr>\nvô lượng, cho nên chúng sinh của thế giới Cực Lạc ấy có thọ mạng kéo dài liên tục\u003Cbr>\nchẳng dứt, có thể dùng sự bất đoạn đó mà tu hành. Tu hành ở thế giới Cực Lạc có thể\u003Cbr>\nđạt được tính nhất quán, cũng ở trong thế giới này nhất định đạt được thành tựu.\u003Cbr>\nTừ Mật ý trên để giảng “Vô Lượng Thọ” chẳng phải là toàn bộ thọ mệnh lâu dài\u003Cbr>\ncủa cảnh bên ngoài mà đó là phương diện Lý của thế giới Cực Lạc. Tất cả chúng sinh\u003Cbr>\ncuối cùng sẽ thành Phật, viên mãn Phật Quả. Mà sau khi viên mãn Phật Quả, tức là an\u003Cbr>\ntrú tại Thường Tịch Quang tức là vĩnh viễn an trú ở cảnh giới Vô Lượng Thọ của cõi\u003Cbr>\nNiết Bàn yên tĩnh.\u003Cbr>\nĐức Phật A Di Đà và chúng sinh của Thế Giới Ta Bà (Sāha-loka-dhātu) này rất\u003Cbr>\nlà có duyên nên có thể trợ giúp cho chúng ta thành tựu cảnh giới của Vô Lượng Thọ.\u003Cbr>\nTrong Kinh Phật thường đề cập đến mỗi vị Phật Đà có thọ mệnh ngang bằng một\u003Cbr>\nngàn kiếp nhằm giải thích mỗi loại đều có thời gian dài ngắn, Đó là cách nói để làm rõ\u003Cbr>\ný trên. Nhưng đem Mật Ý trên để nói thì tuổi thọ của Đức Phật không thể đem thời\u003Cbr>\ngian dài ngắn mà nói là Niết Bàn (Nirvāṇa), tức là Thường Tịch Quang hay phóng tỏa\u003Cbr>\nánh sáng, hay Xuất Ứng bởi vì có nhân có duyên cho nên cũng có thể nói là Vô Gián\u003Cbr>\nVô Lượng Thọ.\u003Cbr>\nTrong Tạng truyền Phật Giáo, Đức Phật A Di Đà là một trong ba Tôn trường thọ\u003Cbr>\nhay tăng trưởng thọ mệnh với phước Đức Trí Tuệ của chúng sinh, tránh khỏi, diệt trừ\u003Cbr>\ncái chết yểu không đúng thời.\u003Cbr>\nY theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: Khi còn ở Nhân Địa, Ngài là vị Tỳ Khưu\u003Cbr>\nPháp Tạng thời ở trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương (Lokeśvara-rāja) phát khởi Tâm\u003Cbr>\nVô Thượng Đạo, dùng 48 Hoằng Nguyện thề nguyện xây dựng Thế Giới Cực Lạc\u003Cbr>\n(Sukhā-vatī) rất trang nghiêm không thể sánh ở trong cõi Phật của mười phương, siêng\u003Cbr>\nnăng tu tập Bồ Tát Đạo mà thành Phật.\u003Cbr>\nA Đi Đà Phật có Bi Nguyện rộng lớn, Tâm Từ sâu xa mà Pháp Môn Niệm Phật\u003Cbr>\nấy lại đơn giản dễ hành nên trong Phật Giáo Đại Thừa, Đức Phật A Di Đà chiếm địa vị\u003Cbr>\nrất trọng yếu. Tại các quốc gia tín ngưỡng Đại Thừa có rất nhiều người tin theo. Trung\u003Cbr>\nQuốc cổ đại có nói Pháp: “Nhà nhà A Di Đà, cửa cửa Quán Thế Âm” chính là sự phổ\u003Cbr>\nbiến lưu truyền tín ngưỡng A Di Đà.\u003Cbr>\nTại Đại Hùng Bảo Điện trong Tự Viện Phật Giáo ở Trung Quốc thường cung\u003Cbr>\nphụng Tượng Phật của ba Tôn đại biểu cho ba Thế Giới khác nhau ở Đông, Tây và\u003Cbr>\nchính giữa. Tức là Hoành Tam Thế, hoặc xưng là Tam Bảo Phật, Tam Phương\u003Cbr>\nPhật. Trong tạo hình này thì A Di Đà Phật được an trí ở bên phải của Đức Phật Thích\u003Cbr>\nCa Mâu Ni, ngồi Kiết Già trên đài sen, hai tay kết Định Ấn, ngửa lòng bàn tay đặt\u003Cbr>\nchồng lên nhau trên bàn chân, trong lòng bàn tay lại có một tòa đài sen biểu thị cho ý\u003Cbr>\n“Tiếp dẫn chúng sinh vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc Tịnh Thổ, hóa sinh ở trong\u003Cbr>\nhoa sen”… (xem tiếp trong file PDF)\u003C\u002Fp>",1782647072096]